Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương + Đơn giá cố định: Dùng để trả cho những sản phẩm thực tế đã hoàn thành. + Don giá luỹ tiến: Dùng dé tính lương cho những sản phẩm vượt mức khởi điểm. Công thức: L =Ðg x QI +Ðg x k(QI - Q0) Trong đó: L - Tổng tiền lương trả theo sản pham luỹ tiến. Dg - Don giá cô định tính theo sản phẩm k- Ty lệ tăng thêm dé có đơn giá luỹ tiến Q0 - sản lượng thực tế hoàn thành QI - sản lượng vượt mức khởi điểm -Uu điểm: Khuyên khích NLD tăng năng suất ở khâu chủ yếu, đảm bảo dây chuyền sản xuất.
- Nhược điểm: Dễ làm tốc độ tăng của tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động. Hình thức tra lương hỗn hợp: Day là hình thức trả lương kết hợp một cách nhuan nhuyễn giữa hình thức trả lương theo thời gian với hình thức trả lương theo sản phẩm. áp dụng hình thức trả lương này, tiền lương của NLD được chia làm hai bộ phận: Một bộ phận cứng: Bộ phận này tương đối 6n định nhăm đảm bảo mức thu nhập tối thiêu cho NLD ồn định đời sống cho họ và gia đình. Bộ phận này sẽ được qui định theo bậc lương cơ bản và ngày công làm việc của NLD trong mỗi tháng.
Bộ phận biến động: Tuỳ thuộc vào năng suất chất lượng, hiệu quả của từng cá nhân NLD và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Công thức: Quỹ tiền lương phải trả = Thu nhập tính lương thực tế x Đơn giá. Các hình thức đãi ngộ khác ngoài lương Ngoài tiền lương thì tiền thưởng cũng là một công cụ kích thích NLD rất quan trọng. Thực chất tiền thưởng là một khoản tiền bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hon nguyên tắc phân phối theo lao động.
Thông qua tiền thưởng, NLĐ được thừa nhận trước doanh nghiệp và xã hội về những thành tích của mình, đồng thời nó cé vũ tinh than cho toàn bộ doanh nghiệp phan dau đạt nhiều thành tích trong công việc. Có rất nhiều hình thức thưởng, mức thưởng khác nhau tat cả phụ thuộc vào tính chất công việc lẫn hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Dé phát huy tác dụng cuả tiền thưởng thì doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất đối với những trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ, gây tồn thất cho doanh nghiệp. Ngoài tiền thưởng ra thì trợ cấp và các khoản thu khác ngoài lương cũng có tác dụng lớn trong việc khuyến khích lao động.
Khuyến khích vật chat và tinh thần đối với NLD là một nguyên tắc hết sức quan trọng nhằm thu hút và tạo động lực mạnh mẽ cho NLD trong quá trình lao động. Tuy nhiên, SV: Nguyễn Thị Mai - DI7CQKT02-B 13 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương không nên quá coi trọng việc khuyến khích đó mà phải kết hợp chặt chẽ thưởng phạt phân minh thì động lực tạo ra mới thực sự mạnh mẽ. Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, thuế TNCN [6]Quỹ tiền lương: Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền lương tính theo số NLĐ của doanh nghiệp do doanh nghiệp trực tiếp quan lý và chi trả lương, bao gồm các khoản sau: - Tiền lương tính theo thời gian. - Tiền lương tinh theo sản phẩm.
- Tiền lương công nhật, lương khoán. - Tiền lương trả cho NLD chế tạo ra san phâm hỏng trong phạm vi chế độ quy định. - Tiền lương trả cho NLD trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan. - Tiền lương trả cho NLD trong thời gian điều động công tác, đi làm nghĩa vụ trong phạm vi chế độ quy định.
- Tiền lương trả cho NLĐ khi đã nghỉ phép, đi học theo chế độ quy định. - Tiên trả nhuận bút, giảng bài. - Tiền thưởng có tính chất thường xuyên. - Phụ cấp làm đêm, thêm giờ, thêm ca.
- Phụ cấp dạy nghề. - Phụ cấp công tác lưu động. - Phụ cấp khu vực, thâm niên ngành nghề. - Phụ cấp trách nhiệm.
- Phụ cấp cho những người làm công tác khoa học kỹ thuật có tài năng. - Phụ cấp học nghé, tap su. - Tro cap thdi viéc. - Tiền ăn giữa ca của người lao động.
Ngoài ra quỹ tiền lương còn gồm cả khoản chi trợ cấp bảo hiểm xã hội cho NLD trong thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động (BHXH trả thay lương) Trong kế toán và phân tích kinh tế tiền lương của NLĐ trong doanh nghiệp được chia làm hai loại: Tiền lương chính và tiền lương phụ. - Tiền lương chính là tiền lương trả cho NLĐ trong thời gian NLĐ thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo lương như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên. SV: Nguyễn Thị Mai - DI7CQKT02-B 14 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương - Tiền lương phụ là tiền lương trả cho NLD trong thời gian NLD thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian NLD nghỉ theo chế độ được hưởng lương như đi nghỉ phép, nghỉ vì ngừng sản xuất, đi học, đi họp. Việc phân chia tiền lương chính, tiền lương phụ có ý nghĩa quan trọng trong công tác kế toán tiền lương va phân tích khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Trong công tác kế toán, tiền lương chính của công nhân sản xuất thường được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm. Tiền lương phụ được phân bé một cách gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản phẩm. -[7]Quỹ bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo hay bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Quỹ BHXH được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định là trên tiền lương phải tra NLD trong kỳ.
Theo qui định hiện hành quyết định 959/QD-BHXH, hàng tháng doanh nghiệp tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 26% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả NLD trong tháng, trong đó: 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 8% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHXH được trích lập tạo ra nguồn vốn tài trợ cho NLD trong trường hợp ốm dau, thai san, tai nạn lao động. Thực chất của BHXH là giúp mọi người đảm bảo về mặt xã hội để NLĐ có thể duy trì và én định cuộc sông khi gặp khó khăn, rủi ro khiến họ bị mat sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn. Tại doanh nghiệp, hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả BHXH cho NLD bị ốm đau, thai sản.
trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Cuối tháng, doanh nghiệp phải quyết toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH. -Quÿ bảo hiểm y tế: BHYT là một khoản trợ cấp cho việc phòng chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Cơ quan bảo hiểm sẽ thanh toán về chi phí khám chữa bệnh theo tỷ lệ nhất định mà Nhà nước quy định cho những người đã tham gia đóng bảo hiểm.
Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải tra NLD trong ky. Theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 4,5% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả NLĐ trong tháng, trong đó 3% tính vào chỉ phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1,5% trừ vào lương của người lao động. Quỹ BHYT được trích lập đề tài trợ cho NLĐ có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên trách quan lý và trợ cấp cho NLD thông qua mạng lưới y tế.
-Kinh phí công đoàn: SV: Nguyễn Thị Mai - D17CQKT02-B 15 Khóa luận tốt nghiệp Đại học Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Kinh phí công đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ NLD trong doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho NLD đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp. Theo chế độ hiện hành hang tháng doanh nghiệp trích 2% kinh phí công đoàn trên tổng số tiền lương thực tế phải trả NLD trong thang và tính toàn bộ vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động. Toàn bộ số kinh phí công đoàn trích được một phần nộp lên cơ quan công đoàn cấp trên, một phần dé lại doanh nghiệp dé chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp. Kinh phí công đoàn được trích lập dé phục vụ chỉ tiêu cho hoạt động của tô chức công đoàn nham chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
-Quy bao hiém thdt nghiép: Bao hiém that nghiép 1a khoan tiền được trích dé trợ cấp cho NLD bị mất việc làm. Nguồn hình thành quỹ BHTN như sau: - NLD đóng bang 1% tiền lương tiền công tháng đóng BHTN. - Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những NLD tham gia BHTN. - Hàng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách băng 1% quỹ tiền lương,tiền công tháng đóng BHTN của những người tham gia BHTN và mỗi năm chuyên một lần.
Vậy ty lệ trích lập BHTN của doanh nghiệp là 2%, trong đó NLD chịu 1% và doanh nghiệp chịu 1% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là thuế đánh trực tiếp lên người có thu nhập. Dé xác định thuế TNCN, đầu tiên phải xác định: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú hay không cư trú. Hai đối tượng nay có dia vị pháp lý khác nhau, va thuế TNCN của họ cũng bị điều chỉnh khác nhau bởi Luật thuế TNCN.
Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương 1. Nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương Xuất phát từ ý nghĩa, tam quan trọng của lao động tiền lương mà kế toán tiền lương có một vi trí đặc biệt quan trọng có nhiệm vụ sau: - Phản ánh kịp thời, chính xác số lượng, thời gian và kết quả lao động. - Tính toán và thanh toán đúng đắn, kịp thời tiền lương và các khoản khác phải thanh toán với người lao động.