chương I, luật số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội, Luật thuế GTGT đã nêu rõ: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Luật thuế GTGT: Áp dụng năm 1999, tại quốc hội khóa 11, luật sửa đổi năm 2008,2003,2015 (QH2013) Đặc điểm thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, đánh vào người tiêu dùng. Người mua là người chịu thuế nhưng không trực tiếp nộp thuế mà do người bán nộp hộ. Thuế giá trị gia tăng là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình SXKD nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng. GTGT là phần giá trị mới tạo ra trong quá trình SXKD. Đại lượng này có thể được xác định bằng phương pháp cộng hoặc phương pháp trừ. Theo phương pháp cộng, GTGT là trị giá các yếu tố cấu thành giá trị tăng thêm bao gồm tiền công và lợi nhuận.
Theo phương pháp trừ, GTGT chính là khoản chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất tiêu thụ trừ đi tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào 4 tương ứng. Tổng GTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển đúng bằng giá bán sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng. Do vậy, việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn tương đương với số thuế tính trên giá bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao.
Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp ở tất cả các giai đoạn không thay đổi. Thuế giá trị gia tăng ít mức thuế suất. Theo quy định hiện hành, thuế giá trị gia tăng chỉ có 3 mức thuế suất là 0%, 5% và 10%, thuế giá trị gia tăng (GTGT), giảm 2% thuế suất thuế GTGT từ ngày 01/02/2022 đến hết ngày 31/12/2022 đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 10% (còn 8%) trừ một số hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT có tính chất luỹ thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hoá, dịch vụ nên người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau. Thuế GTGT có tính chất lãnh thổ. Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.2 Vai trò Thuế giá trị gia tăng có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng là khoản thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 20 – 30% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí. Thuế giá trị gia tăng không trùng lặp do loại thuế này chỉ tính vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng mà không tính vào phần giá trị đã chịu thuế giá trị gia tăng ở các khâu trước. Thuế 5 đã nộp ở các khâu trước được tính khấu trừ ở khâu sau do đó có tác dụng khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng mức thuế suất 0%. Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không những không phải chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước. Điều này có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hoá đơn, chứng từ và thanh toán qua ngân hàng.3 Đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế GTGT, đối tượng nộp thuế Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT): là tất cả hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.
Đối tượng không chịu thuế: Bao gồm 6 nhóm chính sau: (1) Nhóm sản phẩm nông nghiệp là dịch vụ đầu vào của sản xuất nông nghiệp. (2) Nhóm theo các cam kết quốc tế. (3) Nhóm vì lý do xã hội (Bảo hiểm nhân thọ, dịch vụ y tế, dạy học, dạy nghề, sản phẩm nhân tạo thay thế bộ phận cơ thể.…) (4) Nhóm để phù hợp với thông lệ quốc tế (dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, trung tâm lưu ký, hàng chuyển quá cảnh.…) (5) Nhóm hàng hóa dịch vụ do Nhà nước trả tiền (vũ khí, phát thanh truyền hình.…) (6) Nhóm một số lý do khác (chuyển giao công nghệ, vàng nhập khẩu, nhà ở nhà nước cho thuê…) 6 Đối tượng nộp thuế: Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu)- theo Điều 3 Luật số 106/2016/ QH13.3 Căn cứ tính thuế GTGT Theo điều 6 TT219/2013/TT-BTC thì căn cứ tính thuế là là giá tính thuế và thuế suất. a) Giá tính thuế GTGT Giá tính thuế là giá của hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế dùng để xác định thuế.
(Tùy thuộc vào nguồn gốc và do luật thuế quy định.) Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT; đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hoá chịu thuế BVMT là giá bán đã có thuế BVMT nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hoá chịu thuế TTĐB và thuế BVMT là giá bán đã có thuế TTĐB và thuế BVMT nhưng chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế TTĐB (nếu có) và cộng với thuế BVMT (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu. Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho thời hạn thuê thì giá tính thuế là số tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT. 7 Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm. Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế GTGT.
Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu NVL, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị NVL và máy móc, thiết bị. Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế là giá chuyển nhượng bất động sản trừ (-) giá đất (hoặc giá thuê đất) thực tế tại thời điểm chuyển nhượng. Trường hợp giá đất tại thời điểm chuyển nhượng do người nộp thuế kê khai không đủ căn cứ để xác định giá tính thuế hợp lý theo quy định của pháp luật thì tính trừ theo giá đất (hoặc giá thuê đất) do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm chuyển nhượng bất động sản.
Giá đất tính trừ để xác định giá tính thuế tối đa không vượt quá số tiền đất thu của khách hàng. Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoá hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt dộng này chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau: Giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán 1 + Thuế suất của hàng hóa dịch vụ (%) Đối với dịch vụ casino, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh giải trí có đặt cược, là số tiền thu từ hoạt này đã bao gồm cả thuế TTĐB trừ số tiền đã trúng thưởng cho khách. Giá tính thuế được tính theo công thức sau: 8 Số tiền thu được Giá tính thuế = 1 + Thuế suất Đối với vận tải, bốc xếp là giá cước vận tải, bốc xếp chưa có thuế GTGT, không phân biệt cơ sở trực tiếp vận tải, bốc xếp hay thuê lại.
Đối với dịch vụ du lịch theo hình thức lữ hành, hợp đồng ký với khách hàng theo giá trọn gói (ăn, ở, đi lại) thì giá trọn gói được xác định là giá đã có thuế GTGT. Trường hợp giá trọn gói bao gồm các khoản chi vé máy bay vận chuyển khách du lịch từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam đi nước ngoài, các chi phí ăn, nghỉ, thăm quan và một số khoản chi ở nước ngoài khác (nếu có chứng từ hợp pháp) thì các khoản thu của khách hàng để chi cho các khoản trên được tính giảm trừ trong giá tính thuế GTGT. Đối với dịch vụ cẩm đồ, giá tính thuế là tiền phải thu từ dịch vụ này bao gồm tiền lãi phải thu từ cho vay cầm đồ và khoản thu khác phát sinh từ việc bán hàng cầm đồ (nếu có). Khoản thu từ dịch vụ này được xác định như trên là giá đã có thuế GTGT.