Chương 1: Tổng quan về thuế giá trị gia tăng tại doanh nghiệp và kế toán thuế giá trị gia tăng Chương 2: Thực trạng kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn IUM Logistics Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn IUM Logistics 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI DOANH NGHIỆP VÀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Chƣơng 1 trình bày các nội dung liên quan đến những vấn đề cơ bản về thuế GTGT bao gồm khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT tại doanh nghiệp dựa trên những nghiên cứu đi trƣớc. Bên cạnh đó, tác giả sẽ tìm hiểu cụ thể hơn về công tác kế toán thuế GTGT đầu vào và đầu ra tại doanh nghiệp nhằm làm cơ sở lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng ở chƣơng 2. TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Có nhiều nghiên cứu về thuế GTGT cũng đã đƣa ra các nhận định về thuế GTGT, cụ thể nhƣ: Theo Tait, M.
(1988), “Thuế GTGT là phần giá trị tăng thêm mà các nhà sản xuất thêm vào nguyên liệu thô hoặc các giao dịch mua bán của mình trƣớc khi bán hàng hóa, dịch vụ”. Theo Ainsworth và Alwohaibi (2016), “Thuế GTGT là loại thuế đƣợc tính vào mọi thời điểm mà việc tạo ra giá trị đã đƣợc thực hiện, nghĩa là nếu giá trị đƣợc cộng vào hàng hóa bằng tiền hoặc chất lƣợng, thuế sẽ đƣợc tính trên tổng giá trị sản phẩm”. Theo Julia (2020), “Thuế GTGT là thuế tiêu thụ đánh vào sản phẩm bất cứ khi nào giá trị đƣợc gia tăng ở mỗi giai đoạn trong chuỗi cung ứng, từ sản xuất đến điểm bán hàng hóa, dịch vụ. Số thuế GTGT mà ngƣời dùng phải trả sẽ tính trên giá thành của sản phẩm, trừ đi bất kỳ chi phí nào của nguyên vật liệu đƣợc sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh đã bị tính thuế”.
Ở Việt Nam, thuế GTGT đƣợc định nghĩa tại điều 2, Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/05/2008 nhƣ sau: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến 10 tiêu dùng”. Tổng số thuế giá trị gia tăng thu đƣợc ở mỗi khâu sẽ bằng số thuế tính trên giá bán ở ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Nghĩa là ngƣời tiêu dùng cuối cùng sẽ là ngƣời gánh chịu khoản thuế này, ngƣời sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm nộp hộ ngƣời tiêu dùng. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có một số đặc điểm đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Thuế GTGT là loại thuế gián thu: Thuế GTGT là yếu tố đƣợc cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Ngƣời mua HHDV là ngƣời phải trả khoản thuế này, ngƣời bán sẽ có nghĩa vụ nộp khoản thuế GTGT thay cho ngƣời tiêu dùng. Bản chất của thuế GTGT là đƣợc tính phí ở tất cả các giai đoạn sản xuất, tuy nhiên nó cung cấp một số cơ chế cho phép các doanh nghiệp bù trừ khoản thuế mà họ đã trả cho việc mua hàng hóa và dịch vụ so với khoản thuế mà họ tính trên việc bán hàng hóa và dịch vụ của họ (Ebrill, Keen & Perry, 2001). Thuế GTGT đánh vào nhiều giai đoạn: Thuế GTGT đánh thuế từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng HHDV đó. Số tiền thuế phải nộp chỉ tính ở phần tăng thêm của HHDV từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng và khi khép kín một chu kỳ kinh doanh (Miki, B.
Thuế GTGT có phạm vi đối tượng chịu thuế rộng: Là tất cả những ngƣời tiêu dùng trong phạm vi quốc gia. Thuế đánh vào các hoạt động tiêu dùng diễn ra trong lãnh thổ nghĩa là căn cứ vào nơi thực hiện hành vi tiêu dùng, không đánh vào các đối tƣợng tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, sẽ có một mức thuế suất áp dụng cụ thể đối với từng loại hàng hóa dịch vụ lƣu thông trên thị trƣờng hoặc hàng hóa nhập khẩu từ nƣớc ngoài (Essam, 2017). Thuế GTGT có tính trung lập quốc tế: Lợi thế quốc tế của thuế GTGT nằm ở chỗ, hoạt động xuất khẩu có thể đƣợc miễn thuế hoàn toàn và sau đó đƣợc đánh thuế 11 lại theo tỷ lệ tình trạng tiêu dùng, do đó ngăn chặn sự “bóp méo” giá cả cạnh tranh (Terra & Kajus, 2012).
Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập: Ngƣời tiêu dùng có thu nhập thấp hay cao khi tiêu thụ một loại hàng hóa nhƣ nhau thì sẽ chịu một mức thuế GTGT giống nhau (Zolt & Bird, 2005). Có thể nói rằng, tỷ lệ nộp thuế GTGT so với thu nhập sẽ càng giảm khi thu nhập của ngƣời chịu thuế càng cao. Vai trò của thuế GTGT Thuế GTGT là một trong những sắc thuế quan trọng đối với đến nền kinh tế, chính, trị, xã hội của một quốc gia. Cụ thể, vai trò của thuế GTGT đƣợc thể hiện nhƣ sau: Thuế GTGT là khoản thu quan trọng và chủ yếu của NSNN.
Do việc thu thuế đƣợc áp dụng ngay từ khâu sản xuất và nhập khẩu nên thuế GTGT đảm bảo tính đầy đủ và kịp thời nguồn thu cho NSNN (Charlet & Buydens, 2012). Thuế GTGT thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ và phát triển quan hệ thanh toán qua ngân hàng (Bird & Gendron, 2005). Thuế GTGT giúp tăng trƣởng kinh tế tại quốc gia áp dụng thuế GTGT. Chính sách thuế GTGT có vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế - xã hội đối với mỗi quốc gia và ngày càng đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới.
Càng nhiều hàng hóa và dịch vụ bị đánh thuế GTGT thì cơ sở doanh thu của nƣớc đó càng tăng lên (Samuel, 2014). CÁC QUY ĐỊNH VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Nội dung cơ bản của thuế giá trị gia tăng Đối tượng chịu thuế GTGT: Là những HHDV dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, bao gồm cả hàng hóa dịch vụ mua từ các cá nhân, tổ chức 12 nƣớc ngoài, không tính đến các đối tƣợng không thuộc diện chịu thuế GTGT (Leiden, 2021). Đối tượng không chịu thuế GTGT: Tùy theo Pháp luật của mỗi Quốc gia mà các đối tƣợng không chịu thuế đƣợc quy định khác nhau.
Thông thƣờng, các quốc gia thƣờng áp dụng mức giảm giá thuế GTGT cho các HHDV mà họ coi là nhu yếu phẩm hằng ngày hoặc quy định các danh mục HHDV không chịu thuế GTGT đối với những danh mục, ngành nghề chƣa phát triển, hoạt động từ thiện vì lợi ích cộng đồng (TCU, 2022). Ví dụ tại Việt Nam quy định 26 danh mục loại HHDV thuộc đối tƣợng không chịu thuế giá trị gia tăng (Thông tƣ 219/2013/TT-BTC). Người nộp thuế GTGT: Là ngƣời chịu trách nhiệm nộp thuế GTGT cho cơ quan thuế bao gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, dịch vụ hàng hóa chịu thuế GTGT diễn ra tại quốc gia đó, không phân biệt ngành nghề, mục đích kinh doanh. Căn cứ và phƣơng pháp tính thuế giá trị gia tăng 1.
Căn cứ tính thuế Căn cứ để tính thuế GTGT là giá tính thuế và mức thuế suất (Aguirre & Shome, 1988). Giá tính thuế: là giá bán chƣa có thuế GTGT đƣợc xác định tùy theo loại hàng hóa và tính chất giao dịch của HHDV. Thuế suất: Là mức thuế phải nộp trên một đơn vị khối lƣợng chịu thuế. Định mức thu thuế (%) tính trên giá trị hàng hóa dịch vụ chịu thuế.
Tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia mà căn cứ tính thuế GTGT sẽ đƣợc trình bày cụ thể theo quốc gia đó. Tác giả đã tổng hợp một số mức thuế suất thuế GTGT hiện đang đƣợc áp dụng của một số nƣớc trên thế giới (Xem bảng 1.1 Mức thuế suất GTGT của Việt Nam và một số nước Châu Á Quốc gia Thuế suất phổ thông Thuế suất ƣu đãi Việt Nam 10%, 8%1 5%, 0% Trung Quốc 17% 13%, 11%, 6% Hàn Quốc 10% - Nhật Bản 10% 8% Thái Lan 7% - Singapore 7% - Philipin 12% - Indonesia 10% 0% Malaysia 6% - Bangladesh 15% 9%, 6%, 5% Nguồn: Tác giả tổng hợp theo Avalara (2022) 1. Phƣơng pháp tính thuế Tùy vào mỗi quốc gia sẽ có những phƣơng pháp tính thuế khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Thị Phú (2000, trang 3) đã tổng hợp 3 phƣơng pháp xác định số thuế GTGT phải nộp phổ biến trên thế giới, đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Phương pháp Cộng thêm (Addition method) Phƣơng pháp này sẽ tính thuế GTGT cho lƣơng và lợi tức ở mọi cấp theo công thức: Thuế GTGT = Thuế suất x (lƣơng + lợi tức) 1 Chính phủ (2022), Nghị định 15/2022/NĐ-CP ngày 28/11/2022 ban hành quy định chính sách miễn, giảm thuế theo nghị quyết số 43/2022/QH15 của quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chƣơng trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
14 Nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là khó khăn khi xác định lợi tức của doanh nghiệp, phải cần nhiều thông số mới tính đƣợc số thuế phải trả. Phương pháp trừ/ Phương pháp trực tiếp (Subtraction method) Mức thuế GTGT sẽ đƣợc tính nhƣ sau: Thuế GTGT = Thuế suất x (Giá trị đầu ra – Giá trị đầu vào) Nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là khó xác định chính xác lƣợng giá trị đầu vào đã sử dụng cho từng loại sản phẩm và đầu ra trong trƣờng hợp đa thuế suất. Phương pháp bồi hoàn/ Phương pháp khấu trừ (Credit method) Mức thuế GTGT sẽ đƣợc xác định nhƣ sau: Thuế GTGT = (Thuế suất x Giá trị đầu ra) - (Thuế suất x Giá trị đầu vào) Phƣơng pháp này đƣợc các quốc gia sử dụng phổ biến vì có nhiều ƣu điểm nổi trội. Với cách tính thuế này, các doanh nghiệp có thể dễ dàng xác định số thuế GTGT chỉ cần căn cứ vào hóa đơn đầu vào, đầu ra để kê khai và nộp thuế định kỳ.
Khấu trừ thuế GTGT Khấu trừ thuế GTGT là việc doanh nghiệp xác định số thuế GTGT cần phải nộp vào ngân sách nhà nƣớc dựa trên cơ sở lấy số thuế GTGT đầu vào trừ số thuế GTGT đầu ra. Để quyền khấu trừ tồn tại, các giao dịch phát sinh đầu vào tại doanh nghiệp phải có mối liên hệ trực tiếp và tức thì với các giao dịch đầu ra (Doesum & Nellen, 2021). Tùy vào quy tắc, pháp luật của mỗi quốc gia sẽ có các điều kiện khấu trừ và cách áp dụng khác nhau.