CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Lý luận chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 1.1 Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01), chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Chi phí là nguồn lực phải bỏ ra hoặc hy sinh để đạt được mục tiêu cụ thể trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là quá trình doanh nghiệp sử dụng, tiêu hao các nguồn lực lao động, vật tư, tiền vốn… để sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá… Chính sự tiêu hao các nguồn lực là quá trình hình thành nên các khoản chi phí tương ứng (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)). Chẳng hạn: - Gắn với việc sử dụng lao động trong sản xuất kinh doanh, phát sinh các chi phí về tiền lương (tiền công) và các khoản trích theo lương và chúng được gọi là hao phí về lao động sống.
- Việc sử dụng vật liệu, CCDC, TSCĐ trong sản xuất làm phát sinh các chi phí vật liệu, CCDC, khấu hao TSCĐ,… và chúng được gọi là chi phí về lao động vật hoá… Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động SXKD để đạt được mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ và được tính cho một kì nhất định.2 Phân loại CPSX gồm nhiều loại khác nhau, để phục vụ tốt quá trình quản ký, người ta phải phân loại chúng ra từ các góc độ và tiêu chí khác nhau như: mục đích và công dụng, nội dung và tính chất,… CPSX được phân loại theo các tiêu thứ sau đây (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)): + Theo nội dung, tính chất của chi phí +Theo mục đích và công dụng của chi phí + Theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí + Theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động (khối lượng sản phẩm) 1.1 Phân loại theo nội dung, tính chất của chi phí Là những chi phí có cùng nội dung tính chất sẽ được xét chung vào một yếu tố chi phí, không phân biệt CP đó phát sinh ở đâu, công dụng như nào. Cách phân loại này chỉ quan tâm tới CP phát sinh lần đầu không kể các CP luân chuyển nội bộ. Cách phân loại này giúp DN xác định được mức tiêu hao của từng yếu tố CP trong quá trình SXKD, từ đó phục vụ cho việc xây dựng định mức, dự toán, lập kế hoạch sử dụng vật tư, lao động, TSCĐ,… (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)). Theo cách này CPSX được chia thành: + Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm CP NVL chính, CP NVL phụ, CP nhiên liệu, CP phụ tùng thay thế, CCDC và CP NVL khác sử dụng cho SXKD.
+ Chi phí nhân công: là các khoản CP về tiền lương phải trả cho NLĐ, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tiền lương của NLĐ. + Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ của DN. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động SXKD của DN như CP về điện, nước, điện thoại, các dịch vụ sửa chữa,… 7 + Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình SXKD ngoài các yếu tố CP nói trên như: CP tiếp khách, hội nghị,… Phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong quản lý CPSX, nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố CP trong tổng CP của DN, giúp cho việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán CPSX.2 Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí Đây là những chi phí sản xuất có cùng mục đích, công dụng được xếp vào cùng một khoản mục. Tác dụng là nhằm giúp doanh nghiệp phân tích, đánh giá về việc thực hiện kế hoạch giá thành theo từng khoản mục chi phí, đồng thời biết được sự biến động ảnh hưởng của mỗi khoản mục đến tổng chi phí.
Từ đó giúp cho việc lập kế hoạch giá thành, dự toán chi phí theo từng khoản mục cho kỳ sau được hợp lý hơn (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)). Như vậy, theo cách này, CPSX được chia thành các loại sau: - Chi phí NVL trực tiếp: Là toàn bộ chi phí NVL được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm và các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như: KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN. - Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất.
Chi phí SXC bao gồm các yếu tố CPSX như: CP nhân viên, vật liệu, dụng cụ, khấu hao TSCĐ phân xưởng, CP điện, nước, dịch vụ mua ngoài,… dùng cho sản xuất ở PX, CP bằng tiền khác phục vụ cho nhu cầu ở PX. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý chi phí sản xuất theo định mức, giúp công tác tính giá thành sản phẩm dễ dàng hơn, đồng thời phân tích được tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để định mức sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho những kì sau.3 Phân loại theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí Phương pháp này phân chia các CP thành các loại có liên quan đến quá trình SXKD các sản phẩm, dịch vụ nhằm giúp quá trình xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho đối tượng chịu CP, tạo cơ sở cho việc xác định giá thành từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)). Theo phương pháp này, CP SXKD bao gồm: + Chi phí trực tiếp: là những CP liên quan trực tiếp SXKD từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu CP.
+ Chi phí gián tiếp: là những CP liên quan đến quá trình SXKD nhiều loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Để xác định CP gián tiếp cho từng đối tượng chịu CP, kế toán phải sử dụng phương pháp phân bổ gián tiếp theo từng tiêu thức phù hợp. Cách phân loại này giúp việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng một cách hợp lý nhất.4 Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng hoạt động (khối lượng sản phẩm) Cách phân loại này xem xét khi khối lượng hoạt động, số lượng sản phẩm dịch vụ sản xuất thay đổi thì các CP biến động như thế nào, mức độ bao nhiêu (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)). Theo cách này thì CP SXKD của DN được chia thành: + Chi phí biến đổi: là những CP thay đổi theo tổng số khi khối lượng hoạt động, số lượng sản phẩm sản xuất của DN thay đổi.
Xét về tổng số, biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt động, nhưng biến phí tính cho đơn vị sản phẩm, dịch vụ sản xuất thì thường ổn định, không đổi với mức độ hoạt động. Biến phí gồm: CP NVL trực tiếp, NCTT, hoa hồng bán hàng,…Biến phí có thể được chia thành hai loại là biến phí tỷ lệ và biến phí không tỷ lệ. Trong đó biến phí tỷ lệ là loại CP biến đổi có quan hệ tỷ lệ theo khối lượng hoạt động, biến phí không tỷ lệ là loại biến phí mà sự thay đổi của tổng CP không có quan hệ tỷ lệ với sự thay đổi của khối lượng hoạt động. 9 + Chi phí cố định: là những CP có tổng số không thay đổi khi mức độ hoạt động của DN thay đổi.
Xét về tổng số số, định phí không nhưng định phí đơn vị khối lượng hoạt động lại giảm khi mức độ hoạt động tăng (tỉ lệ nghịch). Định phí bao gồm những chi phí như: CP khấu hao TSCĐ, CP quảng cáo,. Định phí có nhiều loại khác nhau, như định phí tuyệt đối, định phí cấp bậc, định phí bắt buộc, định phí tùy ý,. + Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí bao gồm cả các yếu tố của định phí và các yếu tố biến phí, như: chi phí cước điện thoại, tiền điện, nước,… Đây là cách phân loại có tác dụng rất lớn trong công tác quản trị của mỗi doanh nghiệp, tổ chức sản xuất.
Giúp cho nhà quản trị phân tích được điểm hoà vốn, và căn cứ để đưa ra những quyết định kinh doanh, quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh. Ngoài các cách phân loại trên thì trong kế toán còn có thể sử dụng rất nhiều cách phân loại khác để phân loại CP SXKD của DN như: phân loại theo thẩm quyền ra quyết định,… Tuỳ theo mục đích và nhu cầu thông tin, đặc điểm hoạt động SXKD để sử dụng cách phân loại cho phù hợp.2 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm 1.1 Khái niệm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá được tính trên một khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhất định (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)).2 Phân loại Giá thành sản phẩm được cấu thành bởi các CPSX, hơn nữa việc xác định giá thành sản phẩm chủ yếu phục vụ cho mục tiêu quản lý và xác định KQKD của DN, nên giá thành sản phẩm cũng cần được phân loại theo các tiêu chí khác nhau (Lê Văn Luyện (Chủ biên, 2019)). Giá thành sản phẩm được phân loại theo 2 tiêu thức như sau: 10 + Phân loại giá thành căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính toán + Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành 1.1 Phân loại giá thành căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính toán Giá thành sản phẩm được chia thành ba loại: giá thành định mức, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.