MỞ ĐẦU +s 1.1 TINH CAP THIET CUA VIEC CHON DE TAI Qui I năm 2015 tình hình sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi đã nâng tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,03% so với cùng kỳ năm 2014. Một trong những nguyên nhân giúp Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả là do giá dầu gần đây giảm đã tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp không chịu nhiều sức ép về chỉ phí đầu vào. Bên cạnh đó chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp như Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 01 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 — 2016 ngoài ra công tác cải cách thủ tục hành chính, cải cách thể chế luôn được chú trọng và bản thân các doanh nghiệp luôn phát huy tính chủ động, sáng tạo, tranh thủ và tận dụng mọi cơ hội nên hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả khả quan. (Trích nguồn: http://www.org/download/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi- vief-nam-quy-i-nam-2015-đ]5 796.
htm]) Ngoài những thuận lợi về chính sách, môi trường kinh doanh. thì nguyên nhân không thé thiếu dé quyết định khả năng thành công của 01 Doanh nghiệp đó chính là giá thành sản phẩm. Do đó nội tại mỗi Doanh nghiệp luôn quan tâm đến việc làm sao giảm được chỉ phí thì giá thành sản phẩm sẽ hạ, kéo theo hiệu quả kinh doanh tăng nhưng chất lượng sản phẩm vẫn đạt. Cho nên chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những vấn đề luôn được các nhà quản lý quan tâm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mình.
Thông qua số liệu về chỉ phí và giá thành sản phâm do bộ phận kế toán cung cấp, các nhà quan lý doanh nghiệp có thé tính toán dé cho ra 01 sản phẩm thi chi phí bỏ ra phải là bao nhiêu và mức giá bán như thế nao dé có thé mang lại lợi nhuận cho Doanh nghiệp, giữa chỉ phí và lợi nhuận có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau, chi phí càng cao thì lợi nhuận cảng thấp và ngược lại. Khi có một mức giá hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp có thé cạnh tranh với các doanh nghiệp khác đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài. Do đó kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phâm luôn được xác định là 01 khâu trung tâm của công tác kế toán vì trong các khâu hạch toán đều có tác động đến giá thành sản phẩm. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán trong việc tập hợp chỉ phí sản xuất và tinh giá thành san phâm.
Nên tôi chon đề tài “Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Gạo tại Xí nghiệp Lương thực Thạnh An — Chi nhánh Công ty TNHH MTV Lương thực Tp Hồ Chí Minh”.2 MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu kế toán tập hợp chỉ phí và tính giá thành sản phẩm gạo tại Xí nghiệp Lương thực Thạnh An nhằm: + Tìm hiểu hoạt động và công tác tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Lương thực Thạnh An. + Tìm hiểu những lý luận chung liên quan đến công tác kế toán tập hợp chỉ phí và tính gía thành sản phâm. Từ đó hạch toán thực tế các chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phâm Gạo tại Xí nghiệp Lương thực Thạnh An. + Qua đó phân tích điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống kế toán Xí nghiệp Lương thực Thạnh An đang sử dụng và đề ra một số kiến nghị để góp phần vào việc xây dựng hệ thống kế toán ngày càng hoàn thiện hơn.3 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tượng nghiên cứu Kế toán tập hop chi phí sản xuất và tính giá thành sản phâm Gao tại Xi nghiệp Lương thực Thạnh An — Chi nhánh Công ty TNHH MTV Lương thực Tp Hồ Chí Minh.2 Phạm vi nghiên cứu + Về không gian: Xí nghiệp Lương thực Thạnh An, ấp Phụng Phụng, xã Thạnh Tiến, huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ.
+ Về thời gian: Tháng 3/2015.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Hach toán chi phí theo từng khoản mục cấu thành nên sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Ghi chép các loại số sách kế toán có liên quan và định khoản các nghiệp vụ phát sinh. Kết chuyên và tập hợp chi phí tinh giá thành sản pham Gao.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Phương pháp thu thập số liệu: thông qua quan sát, tìm hiểu tình hình thực tế của Xí nghiệp trong thời gian thực tập: +Thông tin sơ cấp: Phong van trực tiếp nhân viên ở phòng kế toán của Xí nghiệp. +Thông tin thứ cấp: Số liệu thực tế tại phòng kế toán và các chứng từ có liên quan đến công tác hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm gạo.
+Thu thập thông tin từ bên ngoài: Tham khảo sách, Internet và các tài liệu khác liên quan đến đề tài.2 Phương pháp xử lý số liệu + Tổng hợp các khoản mục chỉ phí: nguyên vật liệu trực tiếp, chỉ phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Sau đó, kết chuyên các chi phí vào tài khoản 154 “chi phí sản xuất đở dang” để tính giá thành sản phẩm. + Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống kế toán của xí nghiệp 1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 1.1 Đối với bản thân: Vận dụng linh hoạt được các kiến thức được học ở nhà trường, bên cạnh đó trau đồi thêm những kinh nghiệm thực tiễn khi thực tập tại Xí nghiệp như công tác tô chức kế tô chức kế toán, công tác hạch toán, công tác lưu trữ hồ sơ chứng từ.2 Đối với đơn vị thực tập Góp phan làm cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất va tinh giá thành sản phẩm tại xí nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn. Trang 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHI PHÍ SAN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SAN PHAM œ+- Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, tài sản cũng như sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đó chính là chi phí sản xuất.
Do đó dù cấp nào nhà quản trị trong tổ chức đều phải hiểu được bản chất của chỉ phí phát sinh trong phạm vi quản lý của mình dé có thé kiểm soát và sử dụng chúng như là một công cụ dé gia tăng kết quả kinh doanh đồng thời là cơ sở cho việc tinh giá thành sản pham của doanh nghiệp.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC DIEM VÀ PHAN LOẠI CHI PHI SAN XUẤT KINH 2.1 Khái niệm chỉ phí Tuy có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về chỉ phí như theo quan điểm của các nhà kinh tế chính trị thì chỉ phí kinh doanh đó là sự tiêu hao về lao động sống và lao động vật hóa của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định còn theo quan điểm của nhà quản tri thì chi phí là sự mất đi của nguyên vật liệu, tiền công, dịch vụ mua ngoài và các khoản chi phí khác để tạo ra sản phẩm làm thỏa mãn nhu cầu của thị trường và chi phí được coi là những khoản phi phát sinh thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ hạch toán được xem là quan điểm của kế toán tài chính. Cho du theo quan điểm nào chi phí đều có điểm chung đó là sự tiêu hao các yếu tố sản xuất, các nguồn lực tài chính sau 01 chu kỳ hoạt động đề đạt được kết quả mong muốn của mỗi doanh nghiệp. Do đó, chi phí chính là sự tiêu hao các yếu tố sản xuất, các nguồn lực trong một tô chức hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định. Bản chat của chi phí đó là sự mat đi của các nguồn lực dé đổi lấy các kết quả thu về nhằm thỏa mãn các mục tiêu hoạt động.Nguyễn Ngọc Quang, năm 2006, trang 28) 2.2 Đặc điểm chung của chỉ phí Chỉ phí là hao phí tài nguyên, vật chất, lao động, những hao phí này phải gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh.
Phải định lượng được bằng tiền và xác định trong một khoảng thời gian nhất định.3 Phân loại chỉ phí sản xuất Chi phí được xem như một trong những chỉ tiêu dé đánh giá hiệu qua quan lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Kiểm soát được các khoản chỉ phí là một trong Trang 4 những van dé mau chốt của doanh nghiệp. Do đó dé ghi nhận, đo lường chính xác và quan lý tốt các chi phí người ta chia chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau.1 Căn cứ theo yếu tố chi phí Cách phân loại này căn cứ vào các chi phí có cùng tính chất kinh tế để phân loại, không phân biệt chi phí phát sinh ở đâu, cho hoạt động sản xuất kinh doanh nào và được phân chia thành 5 yếu tố: Chỉ phí nguyên vật liệu là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Chỉ phí nhân công là tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản trích theo lương (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp) và các khoản phải trả cho người lao động trong kỳ.
Chi phí khẩu hao tài sản có định là phan giá trị hao mòn của tài sản cố định chuyền dịch vào chi phi sản xuất kinh doanh trong kỳ. Chỉ phí dịch vụ mua ngoài là các khoản tiền điện, tiền nước, điện thoại, thuê mặt bằng. Chi phí khác băng tiền là những chi phí sản xuất kinh doanh khác chưa được phan ánh trong các chi phí trên nhưng đã chi bằng tiền như chi phí tiếp khách, hội nghị. Tác dụng: Giúp nhà quản trị quản lý tốt nhu cầu vốn bằng tiền cần thiết cho sản xuất, đưa ra những quyết định đúng đắn tránh được những tổn thất và thiệt hại có thể xảy ra.
(Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chi Minh, năm 2010, tr.2 Căn cứ theo mỗi quan hệ với đối tượng chịu chỉ phí Theo cách phân loại này thì chỉ phí được chia làm 02 loại là chỉ phí trực tiếp và chỉ phí gián tiếp Chỉ phí trực tiếp là những chỉ phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chỉ phí và được hạch toán vào đối tượng có liên quan. Thông thường chỉ phí trực tiếp là những chi phí đơn nhất cấu tạo bởi một yếu tố như chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương,.