CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Định nghĩa về kế toán quản trị Trong nền kinh tế thị trường, những chủ thể tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có lợi ích kinh tế, quyền hạn, trách nhiệm, quan hệ khác nhau dẫn đến hình thành những nhu cầu thông tin khác nhau về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và nhu cầu thông tin của nhóm đối tượng bên trong doanh nghiệp. Từ đó, hệ thống kế toán doanh nghiệp phải có hai bộ phận chuyên môn để đáp ứng nhu cầu thông tin của hai nhóm đối tượng khác nhau. Đó chính là kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998, “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình nhận diện, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp” (Huỳnh Lợi, 2007). Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ năm 1981, “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ”. Trong định nghĩa mới năm 2008 của Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ vai trò của kế toán quản trị được cải thiện và nâng cấp nhiều hơn, “Kế toán quản trị là nghề nghiệp thực hiện phối hợp các công việc ra quyết định quản trị, xây dựng kế hoạch và hệ thống quản trị biểu hiện, cung cấp sự chuyên nghiệp trong quá trình báo cáo và kiểm soát tình hình tài chính để hỗ trợ nhà quản trị trong quá trình phân tích chiến lược” (Trịnh Hiệp Thiện, 2013). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Theo tác giả Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson trong cuốn “Advanced Management Accounting” năm 1998 đã định nghĩa về kế toán quản trị như sau “Hệ thống kế toán quản trị cung cấp thông tin cho những người quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ”.
Theo khoản 3, điều 4 Luật Kế Toán Việt Nam được Quốc hội khóa 11 thông qua ngày 17/06/2003, “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Kế toán quản trị được định nghĩa trên nhiều quan điểm khác nhau. Một cách tổng quát, kế toán quản trị là một công cụ cung cấp thông tin quan trọng để phục vụ cho công tác quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cho các loại hình doanh nghiệp ở các cấp độ quy mô khác nhau trong nền kinh tế. Sự hình thành và phát triển kế toán quản trị 1.
Trên thế giới Xét về trọng tâm thông tin, quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị trong doanh nghiệp đã trải qua bốn giai đoạn cơ bản: - Giai đoạn 1. Trước năm 1950, kế toán quản trị chủ yếu quan tâm vào việc xác định chi phí và kiểm soát tài chính, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Vào năm 1965, sự quan tâm của kế toán quản trị đã chuyển vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm. Vào năm 1985, kế toán quản trị tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và quản lý chi phí.
Vào năm 1995, kế toán quản trị chuyển qua quan tâm vào việc tạo ra giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua việc sử dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng, giá trị cho cổ đông và sự thay đổi cho tổ chức. Tuy quá trình phát triển của kế toán quản trị được ghi nhận thành bốn giai đoạn nhưng sự thay đổi từ giai đoạn này qua giai đoạn khác của quá trình đó đan xen vào nhau và chuyển hóa dần dần. Mỗi giai đoạn của quá trình phát triển thể hiện một sự thích nghi với những điều kiện mới đặt ra cho tổ chức, thể hiện bằng sự hòa nhập, kết cấu lại và bổ sung thêm vào nội dung quan tâm và các kỹ thuật đã sử dụng trước đó. Mỗi giai đoạn là một sự kết hợp giữa cái mới với cái cũ, trong đó cái cũ được kết cấu lại để phù hợp với cái mới của môi trường quản trị.
Những điểm khác biệt quan trọng về vai trò của kế toán quản trị trong hoạt động của tổ chức qua bốn giai đoạn phát triển của kế toán quản trị là: - Ở giai đoạn 1, kế toán quản trị được xem như một hoạt động kỹ thuật cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. - Vào giai đoạn 2, kế toán quản trị được xem là một hoạt động quản lý, nhưng có vai trò gián tiếp, kế toán quản trị bao hàm sự hỗ trợ của nhà quản trị gián tiếp đối với nhà quản trị trực tiếp thông qua việc cung cấp thông tin để lập kế hoạch và kiểm soát. - Ở các giai đoạn 3 và 4, kế toán quản trị được xem là một bộ phận cấu thành quá trình quản lý, vì tất cả các nhà quản trị đều có thể trực tiếp tiếp cận với thông tin và vì sự phân biệt giữa nhà quản trị trực tiếp với nhà quản trị gián tiếp cũng dần dần được xóa bỏ (Phạm Văn Dược, 2007). Ở Việt Nam - Giai đoạn trước năm 1986.
Ở giai đoạn này đặc điểm nổi bật của các đơn vị kinh tế ở Việt Nam là chịu sự chi phối, quản lý theo cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp của nhà nước. Nhà nước quản lý hoạt động kinh tế ở những đơn vị bằng hệ thống chi tiêu pháp lệnh. Trong giai đoạn này tồn tại duy nhất một bộ phận kế toán tài chính với các công việc như: kế toán đầu tư, kế toán tài sản, kế toán chi phí và tính giá thành, kế toán tiêu thụ, kế toán kết quả kinh doanh, kế toán nguồn vốn… Hệ thống kế toán trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 doanh nghiệp chủ yếu với nội dung cung cấp thông tin kinh tế, tài chính để Nhà nước kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế, tài chính ở đơn vị. - Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1991.
Trong giai đoạn này, Việt Nam tiến hành xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp. Thay vào đó xây dựng cơ chế kinh tế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh Xã hội Chủ nghĩa. Bước đầu đã tạo nên sự thay đổi chính sách kế toán của Việt Nam nhưng vẫn chưa hình thành đầy đủ các yếu tố đảm bảo cho sự ra đời kế toán quản trị. Kế toán xí nghiệp sản xuất vẫn chịu ảnh hưởng bao trùm bởi đặc điểm kế toán thời kỳ tập trung, bao cấp.
Hệ thống kế toán vẫn với mục đích chủ yếu báo cáo thông tin kinh tế, tài chính cho Nhà nước quản lý, kiểm soát hoạt động kinh tế ở các đơn vị kinh tế. - Giai đoạn từ năm 1991 đến nay. Đặc trưng nổi bật xuyên suốt trong giai đoạn này là quá trình xác lập, phát triển cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam. Giai đoạn này đã từng bước xác lập kinh tế thị trường, nâng cao cạnh tranh, nâng cao quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp và tạo nên áp lực đổi mới chính sách kế toán Việt Nam tiếp sức cho sự hình thành, phát triển kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
Luật kế toán Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2003 đã đề cập đến kế toán quản trị. Đến ngày 12/06/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện kế toán quản trị. Nhà quản trị bắt đầu nhận thức về vai trò quan trọng của kế toán quản trị đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, trong tiến trình hội nhập, phát triển với kinh tế khu vực, với kinh tế thế giới. Hiện nay, kế toán quản trị vẫn đang còn là vấn đề khá mới mẻ, chưa được triển khai một cách đồng bộ và khoa học.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chức năng của kế toán quản trị Kế toán quản trị là một chuyên ngành của kế toán nhằm thực hiện quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp và truyền đạt thông tin hữu ích giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị gồm hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm tra – đánh giá và ra quyết định trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Đào Văn Tài và cộng sự, 2003). Cụ thể như sau: Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch. Lập kế hoạch là việc thiết lập và thông báo những công việc cần thực hiện, những nguồn lực cần huy động, những con người phối hợp thực hiện, thời gian thực hiện, những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần đạt được để tổ chức hướng về mục tiêu đã định.
Kế hoạch mà nhà quản trị phải lập thường dưới hình thức dự toán như dự toán doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dự toán sản xuất. Trên cơ sở những ghi chép, tính toán, phân tích chi phí, doanh thu, kết quả từng hoạt động, dự toán ngân sách giúp nhà quản trị hoạch định, đánh giá, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế nhằm phát triển doanh nghiệp. Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành.