CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 1. Khái niệm kế toán quản trị chi phí Có rất nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị chi phí, qua các khái niệm đó có thể hiểu “Kế toán quản trị là khoa học thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị”[5, tr5]. Bản chất của kế toán quản trị chi phí - Kế toán quản trị chi phí là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện[14, tr28].
- Kế toán quản trị chi phí nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;. nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế[14, tr28] - Đối tượng nhận thông tin kế toán quản trị chi phí là Ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, Luan van 8 kinh doanh của doanh nghiệp. - Nguyên tắc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí: Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị của đơn vị[14, tr45] - Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị.
Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp a. Kế toán quản trị với các chức năng quản lý Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý, được thể hiện cụ thể như sau: - Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán + Lập kế hoạch là việc xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đó. + Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra. Để chức năng lập kế hoạch và dự toán của quản lý được thực hiện tốt, để các kế hoạch và dự toán được lập đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao đòi hỏi phải dựa trên những thông tin đầy đủ, thích hợp và có cơ sở.
Các thông tin này do kế toán quản trị cung cấp. - Trong giai đoạn thực hiện Trong khâu tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực sao cho kế Luan van 9 hoạch được thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thông tin kế toán quản trị như nhà quản trị cần được kế toán cung cấp thông tin để ra quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình điều hành, chỉ đạo việc thực hiện các quyết định hàng ngày, chẳng hạn như quyết định tiếp tục kinh doanh hay loại bộ một bộ phận, một sản phẩm nào đó, quyết định tự sản xuất hay mua ngoài[13, tr9]. - Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá Trong giai đoạn này, nhà quản trị cần các kế toán viên quản trị cung cấp các báo cáo thực hiện để nhận diện những vấn đề còn tồn tại và cần có tác động của quản lý bằng cách phân tích, so sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với kế hoạch đề ra.
- Trong khâu ra quyết định Phần lớn các thông tin do kế toán quản trị cung cấp nhằm giúp các nhà quản trị ra quyết định, đó là chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp. Không những thế, kế toán quản trị còn vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị có thể lựa chọn và ra quyết định thích hợp nhất. Đối với mỗi doanh nghiệp, sau khi đã xác định được các mục tiêu chung, chúng sẽ được chính thức hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế cụ thể. Các chỉ tiêu này trở thành căn cứ để lập kế hoạch chính thức.
Trên cơ sở đó, kế toán tiến hành soạn thảo và triển khai bản dự toán chung và dự toán chi tiết để làm căn cứ tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch. Sau đó kế toán thu thập kết quả thực hiện và soạn thảo báo cáo thực hiện, cung cấp cho nhà quản trị đánh giá, kịp thời phát hiện và khắc phục các yếu kém. Luan van 10 Chu kỳ quản lý và quá trình kế toán quản trị vận động liên tục và lặp đi lặp lại không ngừng trong hoạt động của doanh nghiệp[13, tr10]. Sự cần thiết của Kế toán quản trị ở Việt Nam Ở các nước theo nền kinh tế thị trường, vai trò của kế toán quản trị ngày càng được mở rộng.
Có những lý do chủ yếu dẫn đến sự hình thành và phát triển của lĩnh vực kế toán này như sau : - Quá trình tự động hoá trong sản xuất ngày càng phát triển nhanh chóng, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gia tăng trên toàn cầu. Do đó, các nhà quản lý phải đương đầu với nhiều vấn đề về định giá và tính giá các sản phẩm, dịch vụ. - Các mô hình quản lý và mô hình ra quyết định cũng thay đổi nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và các công cụ phân tích định lượng, như: phân tích xác xuất, lý thuyết ra quyết định,. Những công cụ này ngày càng được áp dụng phổ biến khi ra quyết định ở các doanh nghiệp.
Những chuyển biến trên đặt ra nhu cầu thông tin ngày càng cao trong công tác quản lý. Một doanh nghiệp sẽ tồn tại nếu doanh nghiệp đó thích ứng, đối phó nhanh chóng và kịp thời với mọi thử thách mới trên thị trường. Chính vì vậy, kế toán quản trị ngày càng giữ được vị trí quan trọng. Ở nước ta, từ trước đến nay, khái niệm kế toán quản trị hoàn toàn mới mẻ.
Chuyển sang cơ chế thị trường, với sự điều tiết của Nhà nước, sự hình thành kế toán quản trị trong bộ phận kế toán là rất cần thiết vì những lý do sau: - Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã được giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh. Môi trường kinh doanh đã hình thành ở Việt Nam, giữa những doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa doanh nghiệp nhà nước với tư nhân và với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, do vậy, các thông tin nội bộ do hệ thống kế toán quản trị cung cấp tất yếu phải được hình thành. - Hệ thống kế toán Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể để phù hợp Luan van 11 với các thông lệ kế toán quốc tế, theo đó, hệ thống tài khoản kế toán mới cùng với các chuẩn mực kế toán đã hình thành. Đây là cơ sở để từng bước xây dựng kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính.
Những lý do trên yêu cầu các nhà quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay phải đối phó với những thay đổi liên tục trên thị trường để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn. Chính vì thế, nhu cầu thông tin về tiềm lực và nội bộ của doanh nghiệp là một yếu tố không thể thiếu và kế toán quản trị là phương tiện, là công cụ hỗ trợ quan trọng quyết định chất lượng quá trình quản lý ở các doanh nghiệp. PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động [5, tr25] Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo công dụng của chúng, hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất. - Chi phí sản xuất Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân với việc sử dụng máy móc thiết bị. Chi phí sản xuất bao gồm các khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. * Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các khoản nguyên liệu và vật liệu dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm.
Trong đó nguyên vật liêu liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm và các loại vật liệu phụ khác có tác dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn chỉnh sản phẩm về mặt chất lượng và hình dáng. Luan van 12 * Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và nhưng khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm. Cần phải chú ý rằng, chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân phục vụ hoạt động chung của bộ phận sản xuất hoặc nhân viên quản lý các bộ phận sản xuất thì không bao gồm khoản mục chi phí này mà được tính một phần chi phí sản xuất chung.