Chương 1 xác định KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Khái niệm này tập trung vào việc xác định ranh giới giữa kế toán tài chính và KTQT trong một doanh nghiệp. Mục đích chủ yếu của KTQT là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp để đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động SXKD; còn mục đích chủ yếu của kế toán tài chính là thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nhà đầu tư, các ngân hàng, các đối tác ký kết hợp đồng kinh tế đối với doanh nghiệp. KTQT cung cấp thông tin hướng về tương lai, kế toán tài chính cung cấp thông tin về quá khứ của tổ chức.
KTQT không những cung cấp thông tin về tài chính mà còn cung cấp thông tin phi tài chính về các hoạt trong nội bộ tổ chức cũng như môi trường bên ngoài của tổ chức. Như vậy, để xác định nội dung của KTQT chi phí trước hết cần xác định Luan van 10 nội dung của KTQT. Theo hướng dẫn của Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài chính: KTQT nhằm cung cấp thông tin về hoạt động nội bộ doanh nghiệp như: Chi phí từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc sản phẩm; phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa giữa chi phí với khối lượng sản phẩm và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách SXKD, … nhằm phục vụ cho việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Bên cạnh khái niệm kế toán tài chính và KTQT còn có khái niệm kế toán chi phí.
Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được định nghĩa là “kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tuỳ ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý. Như vậy, theo định nghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ thứ ba của hệ thống kế toán, mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính và vừa là một bộ phận của KTQT. Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Dưới góc độ KTQT, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh.
Qua các phân tích trên, ta thấy KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện Luan van 11 chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý. Nhiệm vụ của KTQT chi phí trong doanh nghiệp Về nhiệm vụ kế toán nói chung được xác định: Một là thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ chế toán. Hai là kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán. Ba là phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.
Bốn là cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật. KTQT chi phí được tách ra từ kế toán chi phí, giai đoạn đầu của KTQT được hình thành từ kế toán chi phí giúp cho việc xác định và kiểm tra chi phí của các nhà quản trị. Song kế toán chi phí cung cấp cả thông tin kế toán tài chính và KTQT vì đối tượng sử dụng thông tin kế toán chi phí bao gồm các cá nhân, tổ chức bên ngoài và các nhà quản trị bên trong doanh nghiệp. Thông tin kế toán chi phí cung cấp vừa mang tính linh hoạt thường xuyên, mang tính chuẩn mực và định kỳ.
Thông tin KTQT chi phí vừa mang tính linh hoạt, thường xuyên và hữu ích, không bắt buộc phải tuân theo những chuẩn mực của chế độ kế toán hiện hành. Nếu như thông tin kế toán chi phí cung cấp là những thông tin quá khứ được xử lý từ các tài liệu lịch sử, thông qua việc lập các báo cáo chi phí và giá thành nhằm kiểm soát chi phí và hạ giá thành, thì thông tin KTQT chi phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ, và những thông tin dự báo thông qua việc lập các kế hoạch và dự toán chi phí trên cơ sở các định mức chi phí (bao gồm cả các định mức về số lượng và định mức về đơn giá) nhằm Luan van 12 kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, quyết định ký kết các hợp đồng, quyết định tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia công, … KTQT chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý (trong đó tập trung vào cấp quản trị cấp thấp như các tổ, đội, phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản lý và phục vụ, là nơi trực tiếp phát sinh các chi phí) nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với chi phí phát sinh thông qua hình thức thông tin chi phí được cung cấp theo các trung tâm chi phí. Nhiệm vụ cơ bản của KTQT chi phí là cung cấp thông tin kinh tế tài chính cho người ra quyết định trong doanh nghiệp và không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán. KTQT chi phí thực hiện những quy định đề ra theo các yêu cầu cụ thể trong nội bộ của từng doanh nghiệp nhằm tạo lập nên một hệ thống thông tin quản lý thích hợp, phục vụ yêu cầu quản trị và các quyết định kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ cụ thể của KTQT chi phí trong doanh nghiệp bao gồm : - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung KTQT chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ. Đối tượng nhận thông tin là ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về KTQT chi phí cho các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp, trừ trường hợp có quy định pháp luật đặc biệt. Phạm vi của KTQT chi phí không bị giới hạn và được quyết định bởi nhu cầu thông tin về quản trị chi phí của doanh nghiệp trong tất cả các khâu của quá trình tổ chức, quản lý SXKD, lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành, ra quyết định.
Phạm vi của KTQT chi phí được mở rộng hay thu hẹp còn phụ thuộc vào trình độ, khả năng tổ chức công tác quản trị chi phí của mỗi doanh nghiệp. Kỳ KTQT chi phí thường là Luan van 13 tháng, quý, năm như kỳ kế toán tài chính nhưng doanh nghiệp được quyết định kỳ kế toán quản trị chi phí theo yêu cầu của mình có thể ngày, tuần, hoặc bất cứ thời hạn nào như theo đơn hàng, theo mã sản phẩm, … - Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán. KTQT chi phí là phương tiện, công cụ để Ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy, KTQT chi phí phải biết sử dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra.
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của doanh nghiệp bằng báo cáo KTQT chi phí. Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ sách, vận dụng và chi tiết hóa các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo KTQT chi phí cần thiết phục vụ cho bản thân doanh nghiệp theo yêu cầu. - Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch và ra quyết định của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải lập kế hoạch và ra quyết định đối với toàn bộ các hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Theo đó, KTQT phải thu thập, xử lý, phân tích thông tin trong suốt quá trình từ lúc mua hàng hóa và nguyên vật liệu; xác định được chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng ngành hoạt động, từng loại dịch vụ. ; phân tích được kết quả tiêu thụ từng loại sản phẩm, kết quả cung ứng từng loại dịch vụ. từ đó tập hợp được các dữ liệu cần thiết để có thể tham mưu, đề xuất phương hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Ngoài ra, kế toán quản trị còn phải biết theo dõi, phân tích thông tin thị trường để dự tính một chương trình sản xuất và tiêu thụ hợp lý.
Các quyết định về sản xuất và tiêu thụ, quyết định về giá bán, quyết định về đầu tư ngắn hạn và dài hạn. của lãnh đạo doanh nghiệp thường dựa trên các thông tin thích hợp do KTQT cung cấp. Vai trò của KTQT chi phí trong quản trị doanh nghiệp. Các nhà quản trị điều hành hoạt động SXKD của doanh nghiệp thông qua các chức năng quản lý cơ bản như hoạch định, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định.