CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KTQT CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KTQT CHI PHÍ 1. Khái niệm về KTQT KTQT là một chuyên ngành kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của DN; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị. Có rất nhiều định nghĩa về KTQT: - Theo luật kế toán Việt Nam ban hành số 03/2003/QH11 ngày 17.2003 thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Hilton, Giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “KTQT là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”. - Theo các Giáo sư đại học South Florida là Jack L.Keith và William L.Stephens: “KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”. - Theo Hiệp hội kế toán Mỹ thì “KTQT là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và truyền đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một DN, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này.” [8, tr20] Theo đó, KTQT có bản chất đặc trưng như sau: Thứ nhất, KTQT hình thành từ nhu cầu thông tin của những nhà quản trị trong nội bộ DN, chính sự thay đổi nhu cầu thông tin quản trị của những nhà Luan van 9 quản trị nội bộ doanh nghiệp thúc đẩy sự phát triển của KTQT. Thứ hai, KTQT ra đời gắn liền với nghiên cứu đối tượng là các nguồn lực kinh tế liên quan đến quy trình tạo giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Thứ ba, bản chất của thông tin trong KTQT không chỉ là thông tin tài chính đơn thuần mà là thông tin quản lý, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của DN, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá DN đó. Thông tin mà KTQT cần nắm bắt bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính, bao gồm những thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ của DN, thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch hướng đến các mục tiêu trên thị trường của DN và những thông tin đặc thù để giúp các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh. Bản chất và vai trò của KTQT chi phí sản xuất - Bản chất của KTQT chi phí sản xuất KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT nhưng trước hết nó phải là kế toán chi phí bởi vì giai đoạn đầu của KTQT được hình thành từ kế toán chi phí, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị. Tuy nhiên, giữa KTQT chi phí và kế toán chi phí có những điểm khác biệt nhau.
Thông tin mà kế toán chi phí cung cấp (gồm cả thông tin về KTTC và thông tin về KTQT) là những thông tin quá khứ được xử lý từ các số liệu lịch sử và được lấy từ các báo cáo chi phí, bảng tính giá thành và kết quả,. của từng tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công việc, từng sản phẩm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất. Thông tin mà KTQT chi phí cung cấp bao gồm thông tin quá khứ và những thông tin có tính chất dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, đồng thời là căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp, quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sử Luan van 10 dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp [15]. KTQT chi phí không nhận diện chi phí theo quan điểm của KTTC mà phải được nhận diện chi phí theo nhiều hướng khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định [15].
Đặc biệt KTQT phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và trách nhiệm của nhà quản trị thuộc các cấp quản lý nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với chi phí phát sinh thông qua hình thức thông tin chi phí được cung cấp theo các trung tâm quản lý chi phí. KTQT chi phí sẽ cung cấp thông tin về sự biến động của chi phí theo mức biến động của đơn vị, từ đó giúp cho nhà quản trị có thể phát hiện được những biến động bất lợi của chi phí và giải pháp cần đưa ra để điều chỉnh một cách kịp thời. Từ đó cho thấy kế KTQT chi phí mang nặng bản chất của KTQT hơn là KTTC thuần tuý. Như vậy, có thể hiểu KTQT chi phí là bộ phận của KTQT thực hiện việc xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định.
- Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất + Cung cấp thông tin hoạch định hoạt động sản xuất kinh doanh; + Cung cấp thông tin kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; + Cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh; + Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định quản trị của những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp [8] 1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm sản phẩm và sản xuất sản phẩm của ngành xây lắp Xây lắp là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp, nó tạo ra cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội. Trong quá trình đầu tư xây dựng cơ Luan van 11 bản, các tổ chức xây lắp nhận thầu giữ một vai trò hết sức quan trọng.
Hiện nay ở nước ta đang tồn tại các tổ chức xây lắp như Tổng công ty, Công ty, DN, đội xây dựng… thuộc các thành phần kinh tế. Tuy các đơn vị này khác nhau về quy mô sản xuất, hình thức quản lí nhưng đều là những tổ chức nhận thầu xây lắp và đều tạo ra sản phẩm xây lắp. Sản phẩm xây lắp được tiến hành một cách liên tục từ khâu thăm dò, điều tra, khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trình khi hoàn thành. Quá trình sản xuất của DN xây lắp và sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt, khác với các ngành sản xuất khác và điều đó có ảnh hưởng đến KTQT, cụ thể: Một là, sản phẩm xây lắp mang tính riêng lẻ Sản phẩm sản xuất xây lắp không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào, mỗi sản phẩm có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau.
Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể, có như vậy việc sản xuất thi công mới mang lại hiệu quả cao và bảo đảm cho sản xuất được liên tục. Do sản phẩm có tính chất đơn chiếc và được sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở những địa điểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất cũng khác nhau Việc tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành và xác định kết quả thi công xây lắp cũng được tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt, sản xuất xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông. Hai là, sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài. Luan van 12 Các công trình XDCB thường có thời gian thi công tương đối dài, có công trình phải xây dựng hàng chục năm mới hoàn thành.
Trong thời gian sản xuất thi công xây dựng chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực của xã hội. Do đó, khi lập kế hoạch XDCB cần cân nhắc, thận trọng nêu rõ các yêu cầu về vật tư, tiền vốn, nhân công. Việc quản lý theo dõi quá trình sản xuất thi công phải chặt chẽ, đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, bảo đảm chất lượng thi công công trình. Do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thường không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định theo thời điểm thi công, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước tùy thuộc vào kết cấu đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp.
Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất. Ba là, thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp tương đối dài, các công trình XDCB thường có thời gian sử dụng dài nên mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa phải phá đi làm lại. Sai lầm trong XDCB vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục. Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra, giám sát chất lượng công trình.
Bốn là, sản phẩm XDCB được sử dụng tại chỗ, còn địa điểm xây dựng luôn thay đổi theo địa bàn thi công. Khi chọn địa điểm xây dựng phải điều tra nghiên cứu khảo sát thật kỹ về điều kiện kinh tế, địa chất, thủy văn, kết hợp các yêu cầu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trước mắt cũng như lâu dài.