PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong những năm qua ngành xây dựng Việt Nam vẫn luôn khẳng định vị trí và vai trò của mình là ngành công nghiệp mũi nhọn, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng đổi mới đất nước, là ngành hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế. Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, tùy thuộc vào yêu cầu và nhiệm vụ của từng giai đoạn, các công trình được xây dựng của ngành đã thể hiện trình độ xây dựng và mức độ ứng dụng công nghệ mới của các doanh nghiệp trong ngành qua từng giai đoạn phát triển. Đi cùng với sự phát triển chung của ngành, các doanh nghiệp xây dựng (DNXD) niêm yết trên sàn chứng khoán cũng đã trực tiếp và gián tiếp tạo việc làm cho người lao động, đóng góp giá trị nhất định vào tổng sản phẩm nội địa (GDP).
Nhóm cổ phiếu ngành xây dựng đã tăng mạnh trong nhiều năm gần đây và điểm tích cực là nhóm ngành này vẫn duy trì xu hướng tăng cao cả về doanh thu và lợi nhuận. Với lợi thế hơn so với các thị trường khác trong khu vực khi thị trường xây dựng có chi phí xây dựng và chi phí nhân công thấp hơn, trình độ công nghệ kỹ thuật của nhà thầu trong nước đã có sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước khi hội nhập. Tuy nhiên, với báo cáo từ các đơn vị phân tích như Công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (2017), Cổ phần chứng LVTS Quản lý kinh tế khoán FPTS (2019) đều nhận định bên cạnh lợi thế như các DNXD là hàng loạt bất cập các DNXD niêm yết đang gặp phải như năng lực quản lý yếu kém gây nên sự chậm trễ và tăng chi phí trong các công trình xây dựng lớn ở Việt Nam; các DNXD hiện đang thiếu khá nhiều các nhân lực có đủ trình độ quản lý, các cấp bậc quản lý cũng chỉ được phân theo yếu tố kinh nghiệm và thiếu đánh giá về những kiến thức quản lý mới. Bên cạnh đó, việc các nhà thầu tìm cách bỏ giá thầu rất thấp, thấp hơn so với năng lực tài chính của họ khiến cho các chi phí sau khi thi công bị tăng cao và chất lượng công trình giảm đi.Chính vì vậy, để đảm bảo thông tin của DNXD niêm yết luôn minh bạch, tin cậy trên sàn chứng khoán đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) phải có được các thông tin tin cậy từ các bộ phận trong DN.
Trong đó, nguồn thông tin về kế toán chiếm tỷ trọng rất lớn do liên quan đến các thông tin cần cung cấp cho các đối tượng đầu tư trên sàn chứng khoán, hay cho chính các nhà quản trị các cấp trong DNXD. Điều này tạo sức ép và áp lực rất lớn lên các thông tin về chi phí, doanh thu đạt được và kết quả công việc mà DN thực hiện trong kỳ như thế nào. Nhu cầu cho các thông tin về tài sản, doanh thu, thu nhập, chi phí, lợi nhuận, dòng tiền, chính sách kế toán .cần phải được minh bạch và công khai cho các đối tượng. Muốn thực hiện được điều này, các nội dung cần thiết lập để có được các thông tin CP, DT và KQKD từ bộ phận kế toán phải hợp lý để giúp nhà quản trị có các quyết định phù hợp nhất trong quá trình quản trị nội bộ cũng như giúp tăng tính minh bạch của thông tin kế toán của DN.
Tuy nhiên hiện nay, kế toán quản trị (KTQT) CP, DT và KQKD trong các DNXD nói chung và các DNXD niêm yết nói 2 riêng vẫn còn những vấn đề cần phải nghiên cứu, hoàn thiện dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn. Thứ nhất, dưới góc độ lý luận: Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học bao gồm cả các đề tài nghiên cứu, các bài luận trên các tạp chí trong và ngoài nước. trình bày những thông tin về kế toán quản trị (KTQT) nói chung và thông tin về KTQT liên quan đến chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng (DNXD) nói riêng đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của KTQT với nhà quản trị doanh nghiệp. Sau 15 năm ban hành Thông tư 53/2006/TT- BTC “Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp” cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể cho các đơn vị thực hiện KTQT trong doanh nghiệp.
Trong khi đó, các quy định pháp lý có liên quan của Chính phủ và Bộ Tài chính cho đơn vị đặc thù ngành xây dựng lại thường xuyên thay đổi như định mức dự doán ngành xây dựng, xác định đơn giá cho vật liệu, nhân công, máy thi công…Do đó, nội dung KTQT chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh phục vụ cung cấp thông tin cho nhà quản trị phải gắn với đặc thù hoạt động của từng đơn vị và phục vụ nhu cầu thông tin ngày càng cao từ các DNXD niêm yết trên thị trường chứng khoán. Thứ hai, dưới góc độ thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm từ các công trình nghiên cứu trước đó của nhiều tác giả tại các DN hoạt động trong lĩnh vực xây lắp như Hoàng Văn Tưởng (2010), La Soa (2016), Nguyễn Thị Thanh LVTS Quản lý kinh tế Loan (2014), Lê Thế Anh (2017).đều cho thấy KTQT nói chung và KTQT riêng về chi phí, doanh thu tại các DNXD còn chưa được chú trọng và chưa đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp. Điển hình trong nghiên cứu của Lê Thế Anh với 522 DN khảo sát, có đến 97,1% các DNXD giao thông Việt Nam chưa có sự kiểm soát chi phí dẫn đến tỷ lệ thất thoát trong xây dựng còn cao, chưa đảm bảo được yêu cầu của việc lập kế hoạch cũng như chưa tổ chức kế toán trách nhiệm.và các nghiên cứu cũng chưa đề cập nhiều tới khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin từ nhà quản trị trong DNXD. Như vậy, trên cả góc độ lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò cũng như một số bất cập của KTQT CP, DT và KQKD đối với các DNXD.
Tác giả kế thừa và tiếp nối phát triển các nghiên cứu trước đó để nghiên cứu đề tài “Kế toán quản trị chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” cho luận án tiến sỹ. Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án và khoảng trống nghiên cứu Các nghiên cứu về KTQT đã phát triển khá lâu tại các nước trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam KTQT mới được nghiên cứu một cách có hệ thống từ những năm 2000 đến nay và lúc này các công trình nghiên cứu khoa học mới bắt đầu được công bố. Các nghiên cứu về KTQT trong DNXD chưa xuất hiện nhiều và còn hạn chế, đặc biệt là các đề tài nghiên cứu về KTQT chi phí, doanh thu và kết quả kinh 3 doanh trong DNXD.
Hầu hết các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong DNXD đều liên quan đến tổ chức KTQT trong doanh nghiệp hay KTQT chi phí…Các nghiên cứu được hệ thống hóa theo 4 nội dung là các tiếp cận nghiên cứu, nội dung, nhu cầu thông tin và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin KTQT chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh trong DNXD. Các tiếp cận nghiên cứu về KTQT chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh Thứ nhất: Tiếp cận theo khâu công việc hay theo chu trình của kế toán Theo góc độ này KTQT được nghiên cứu theo trình tự thực hiện công việc kế toán từ tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán. Theo hướng này đã có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vũ Việt năm 2007, tác giả Văn Thị Thái Thu được thực hiện vào năm 2008 trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn. Tác giả đã đưa ra những lý luận và khảo sát thực trạng KTQT doanh thu, chi phí, kết quả tại các khách sạn Kim liên, Hoa Sen, Phùng Hưng…để thấy rõ hơn công tác thực hiện tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ và báo cáo dưới góc độ lý luận và thực tiễn ra sao để đưa ra giải pháp tăng khả năng vận dụng KTQT cho các nội dung này tại các khách sạn.
Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ công việc của kế toán theo luận án cho thấy KTQT chỉ đóng vai trò giống như kế toán chi tiết, các thông tin về doanh thu, chi phí, kết quả đưa ra đều là các thông tin tài chính, chưa có sự tác động từ các thông tin phi tài chính khác; KTQT chưa khẳng định được vai trò là công cụ LVTS Quản lý kinh tế quản lý tích cực của nhà quản trị. Bên cạnh đó, KTQT đang ngày càng được nghiên cứu và phát triển ở các giai đoạn cao hơn và vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định trong phần lớn các công việc của nhà quản trị nên việc tiếp cận dưới góc độ này đã trở nên “lạc hậu” chỉ phù hợp với sự phát triển của KTQT trong giai đoạn đầu theo mô hình IFAC (1998) mà đã được nêu trong phần trên. Chính vì điều đó, việc tiếp cận dưới góc độ này không còn phù hợp cho các nghiên cứu ở giai đoạn hiện tại và tương lai. Thứ hai: Tiếp cận theo chức năng cung cấp thông tin Theo chức năng cung cấp thông tin nội dung nghiên cứu liên quan đến thu thập thông tin, phân tích thông tin và cung cấp thông tin về KTQT doanh thu, chi phí, kết quả.
Có khá nhiều tác giả ở các giai đoạn từ 2002 đến nay đều đang tiếp cận theo quan điểm này. Trong lĩnh vực xây dựng có nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Loan (2014) và Chu Thị Bích Hạnh (2016). Các nghiên cứu đều thể hiện các nội dung về lập dự toán, thu thập thông tin, cung cấp thông tin và phân tích thông tin về KTQT doanh thu, chi phí, kết quả trong các doanh nghiệp đặc thù. Nhưng các vấn đề trong các kỹ thuật của KTQT lại chưa được làm rõ, chưa có các thông tin phi tài chính được đề cập đến; các nội dung đều tiếp cận theo phương thức truyền thống của KTQT.
Các góc độ về kiểm soát, đánh giá trách nhiệm, thành quả các bộ phận hay đo lường hiệu quả hoạt động của các đơn vị để làm gia tăng vai trò của KTQT doanh thu, chi phí, kết quả phù hợp với sự phát triển của KTQT chưa được đề cập 4 đến trong các nghiên cứu này.