CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN VẬT TƯ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ Quản lý NVL-CCDC là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý kinh doanh, luôn được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm. Để đáp ứng được yêu cầu quản lý NVL-CCDC, trong doanh nghiệp cần thực hiện các yêu cầu sau: - Tổ chức ghi chép và phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình nhập - xuất - tồn kho vật liệu. Tính giá thực tế của vật liệu đã thu mua và nhập kho, tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu về các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời đúng chủng loại vật liệu cho quá trình sản xuất. - Kế toán căn cứ vào hóa đơn bán hàng, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho và các chứng từ có liên quan hợp lệ để tiến hành ghi sổ và hạch toán.
- Kế toán hạch toán đúng phương pháp ban đầu về vật liệu, công cụ dụng cụ cho hợp lý và khoa học. - Kế toán phải cung cấp đầy đủ lượng thông tin kinh tế chính xác của từng loại NVL-CCDC cả về mặt lượng và giá trị cho nhà quản lý và ban lãnh đạo Công ty - Tính toán chính xác giá tị thực tế xuất kho NVL-CCDC phân bổ vật liệu theo đúng đối tượng sử dụng. - Kiểm tra việc bảo quản, dự trữ, khi phát hiện vật liệu thừa hoặc thiếu, vật liệu bị ứ đọng phải có biện pháp sử lý kịp thời. Tính toán chính số lượng vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân bổ chính xác vật liệu đã tiêu hao và đối tượng sử dụng.
- Tham gia kiểm kê và đánh giá vật liệu theo chế độ nhà nước quy định, lập báo cáo về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý điều hành và phân tích kinh tế. Sinh viên: Lâm Thị Phượng 2 Lớp: 64DLKT04 Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế Trường Đại học công nghệ GTVT Khóa luận tốt nghiệp 1.2 Phân loại và đánh giá nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ 1.1 Phân loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ 1.1 Phân loại nguyên vật liệu gồm có các cách phân loại sau * Phân loại theo vai trò, tác dụng của NVL trong quá trình SXKD. Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp NVL theo từng loại, từng nhóm dựa trên những tiêu thức phù hợp. Căn cứ vào nội dung kinh tế NVL được chia thành các loại như sau: - NVL chính: là đối tượng lao động chính trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm: mắm cốt… - Vật liệu phụ: là các loại vật liệu chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Chúng là những loại vật liệu được sử dụng để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm, giúp cho máy móc, thiết bị, công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ sản xuất. Căn cứ vào tác dụng có thể chia vật liệu phụ thành các nhóm như sau: +Nhóm vật liệu phụ được sử dụng để hoàn thiện hoặc nâng cao tính năng, chất lượng sản phẩm như : các loại phụ gia, phẩm màu (muối, mì chính,…) +Nhóm vật liệu phụ sử dụng để bảo quản hoặc phục vụ cho hoạt động của máy móc ,thiết bị, công cụ lao động như: dầu mỡ bôi trơn, thuốc chống ẩm,. + Nhóm vật liệu phụ phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ cho lao động của công nhân như: xà phòng, hương liệu,… - Nhiên liệu : là các loại vật liệu được sử dụng để cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện vận tải máy móc, thiết bị như: than, củi , xăng dầu, khí đốt,….các loại nhiên liệu tồn tại dưới ba dạng : thể rắn, thể lỏng, thể khí. - Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư, sản phẩm phụ tùng dùng để thay thế, sửa chữa các loại máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, CCDC SX và các loại TSCĐ khác như các loại đinh, ốc, vít,… - Thiết bị XDCB: Là loại NVL dùng trong XDCB (gạch, đá, xi măng, sắt thép) và bao gồm các thiết bị, phương tiện cần lắp, không cần lắp, CCDC và vật kết cấu dung vào các công trình XD (cầu thang máy, thiết bị điện nước, điều hòa…) Sinh viên: Lâm Thị Phượng 3 Lớp: 64DLKT04 Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế Trường Đại học công nghệ GTVT Khóa luận tốt nghiệp - Phế liệu: là những NVL bị loại ra trong quá trình sản xuất, hay thu mua được từ việc thanh lý tài sản.
Phế liệu có thể sử dụng hoặc bán ra ngoài. - Vật liệu khác là những loại vật liệu chưa được nêu ở trên. * Căn cứ vào nguồn cung cấp, kế toán có thể phân loại NVL thành các nhóm như sau: - NVL mua ngoài: là loại NVL do doanh nghiệp mua ngoài mà có, thông thường là mua của các nhà cung cấp. - NVL tự chế biến: do doanh nghiệp tự sản xuất - NVL thuê ngoài gia công: doanh nghiệp thuê cơ sở ngoài chế biến -NVL nhận vốn góp liên doanh: là loại NVL do các bên liên doanh góp vốn theo thỏa thuận trên hợp đồng.
Phân loại công cụ dụng cụ gồm có các cách phân loại sau - Công cụ dụng cụ lao động: dụng cụ gỡ lắp, dụng cụ đồ nghề, dụng cụ quản lý, dụng cụ áo bảo vệ lao động, khuôn mẫu,… - Bao bì luân chuyển - Đồ nghề cho thuê 1. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ là thước đo tiền tệ để biểu giá trị của nó theo những nguyên tắc nhất định. Về nguyên tắc: Tất cả các nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ được sử dụng ở các doanh nghiệp đều phải tôn trọng nguyên tắc phản ánh theo giá gốc (bao gồm giá mua, chi phí thu mua, chi phí vận chuyển), giá gốc không kể thuế phải nộp được khấu trừ. Tuy nhiên theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho nếu ở thời điểm cuối kỳ giá trị thực hiện được của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ nếu nhỏ hơn giá gốc thì doanh nghiệp được báo cáo theo giá trị có thể thực hiện được trên báo cáo tài chính của mình.
Giá trị có thể Giá trị có thể Chi phí phải bỏ thực hiện được = bán được tại thời + thêm để bán được điểm cuối kỳ 1. Đánh giá NVL, CCDC nhập kho Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ có thể thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau Sinh viên: Lâm Thị Phượng 4 Lớp: 64DLKT04 Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế Trường Đại học công nghệ GTVT Khóa luận tốt nghiệp do đó giá thực tế của nguyên vật liệu, cũng được đánh giá khác nhau. Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ có thể mua ngoài, hoặc gia công chế biến, thu nhặt được từ phế liệu thu hồi. - Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài: trị giá vốn thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho là giá mua trên hoá đơn cộng với các chi phí thu mua thực tế chi phí vận chuyển, bảo quản, bốc xếp, bến bãi, bảo hiểm, công tác phí của cán bộ thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập và số hao tự nhiên trong định mức (nếu có) … trừ đi khoản giảm giá (nếu có).
Chi phí thu mua vật liệu, công cụ dụng cụ có thể tính trực tiếp vào giá thực tế của từng thứ vật liệu. Nếu chi phí thu mua có liên quan đến nhiều loại thì phải phân bổ cho từng thứ theo tiêu thức nhất định. Lưu ý: Vật liệu, công cụ dụng cụ mua từ nước ngoài thì thuế nhập khẩu được tính vào giá nhập kho. Khoản thuế GTGT nộp khi mua vật liệu cũng được tính vào giá nhập nếu doanh nghiệp không thuộc diện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ.
- Vật liệu, công cụ dụng cụ tự sản xuất: giá nhập kho là giá thành thực tế sản xuất vật liệu. - Đối với nguyên vật liệu mua dùng vào sản xuất kinh doanh mặt hàng không chịu thuế GTGT là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế GTGT). - Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ thuê ngoài gia công, chế biến: giá thực tế nhập kho là giá thực tế của vật liệu xuất thuê ngoài gia công chế biến cộng với các chi phí vận chuyển, bốc dỡ đến nơi thuê gia công chế biến và từ đó doanh nghiệp cộng số tiền phải trả cho người gia công chế biến. Giá Giá xuất vật Chi phí vận chuyển, Cộng với Tiền thuê nhập liệu đem chế bốc dỡ vật liệu đi và chi phí = + chế biến + + kho biến về khác - Đối với vật liệu nhập từ vốn góp liên doanh thì giá thực tế vật liệu do hội đồng quản trị liên doanh thống nhất đánh giá (được sự chấp nhận của các bên có liên quan).
Giá nhập Giá hội đồng liên doanh Các chi phí khác phát sinh Kho = thỏa thuận + khi tiếp nhận vật tư Sinh viên: Lâm Thị Phượng 5 Lớp: 64DLKT04 Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế Trường Đại học công nghệ GTVT Khóa luận tốt nghiệp - Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ doanh nghiệp tự chế biến gia công thì trị giá vốn thực tế bao gồm: giá thực tế xuất kho gia công chế biến và chi phí gia công chế biến (gồm thuế giá trị gia tăng hoặc không có thuế giá trị gia tăng). Trị giá vốn Giá thực tế của vật tư = + Chi phí chế biến thực tế xuất chế biến - Đối với vật liệu do nhận biếu tặng, viện trợ giá nhập kho là giá thực tế được xác định theo thời giá trên thị trường Trị giá vốn thực = Giá trị hợp lý + Chi phí phát sinh khác tế nhập kho - Đối với phế liệu thu hồi, giá thực tế có thể được đánh giá theo giá thực tế có thể sử dụng, tiêu thụ hoặc có thể theo giá ước tính. Giá thực tế nguyên vật liệu có tác dụng lớn trong công tác quản lý vật liệu. Nó được dùng để hạch toán tính hình xuất nhập, tồn kho vật liệu, tính toán và phân bổ chính xác thực tế về vật liệu do tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời phản ánh chính xác giá trị vật liệu hiện có của doanh nghiệp.
Đánh giá thực tế NVL, CCDC xuất kho Doanh nghiệp có thể sử dụng một trong 4 phương pháp: phương pháp tính theo giá đích danh, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO), phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO).