phần mở đầu, kết luận và phụ lục thì luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán một số khoản ƣớc tính trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng trích lập một số khoản ƣớc tính kế toán trong doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện một số khoản ƣớc tính kế toán nhằm nâng cao độ tin cậy của thông tin kế toán.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN MỘT SỐ KHOẢN ƢỚC TÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1/ Những vấn đề chung về một số khoản ƣớc tính kế toán 1.1/ Khái niệm về ƣớc tính kế toán Ước tính kế toán hình thành trên cơ sở vận dụng các giả định và nguyên tắc kế toán để đảm bảo thông tin kế toán đáp ứng được mục tiêu và yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin, để các đối tượng sử dụng thông tin có cái nhìn toàn vẹn, chi tiết hơn về những rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt cũng như xác suất có thể xảy ra và mức độ ảnh hưởng…từ đó đưa ra những nhận định chính xác hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ước tính kế toán ngày càng trở nên khá phổ biến trong hệ thống kế toán Việt Nam và liên quan đến nhiều khoản mục quan trọng trên BCTC của doanh nghiệp ảnh hưởng trọng yếu đến tính trung thực, hợp lý và đáng tin cậy của thông tin tài chính. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540 “ Kiểm toán các ước tính kế toán” định nghĩa như sau: “Ước tính kế toán là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC”.2/ Sự cần thiết phải có các ƣớc tính kế toán. Trên thực tế hiện nay, nguy cơ sử dụng các ước tính kế toán để phản ánh sai lệch thông tin tài chính là có thực, vậy mà người ta vẫn không tìm cách loại bỏ chúng.
Chắc hẳn việc sử dụng các ước tính này mang lại những lợi ích nhất định nào đó. Sau đây là một số nguyên nhân vì sao xét đoán chủ quan vẫn được sử dụng rộng rãi trong việc lập BCTC, bất chấp những lo ngại về khả năng “phù phép” BCTC. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Thứ nhất: Nếu không cho phép các doanh nghiệp được tự xác định tỷ lệ khấu hao tài sản cố định. Thì khi đó Nhà nước phải ban hành một chế độ kế toán phải cực kỳ chi tiết, liệt kê tất cả các tình huống có thể và xác định tỷ lệ khấu hao tương ứng để các doanh nghiệp áp dụng.
Nếu xây dựng một hệ thống luật chi tiết cho tất cả các khoản mục khác trên BCTC thì rõ ràng là không khả thi và không hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn kỹ thuật. Thứ hai: Việc cho phép các doanh nghiệp sử dụng các xét đoán chủ quan trong lập BCTC cũng mang lại nhiều lợi ích, cụ thể giúp cho doanh nghiệp có thể cung cấp nhưng thông tin cần thiết về triển vọng phát triển đồng thời tránh phải tiết lộ những thông tin chi tiết không có lợi cho việc cạnh tranh trên thị trường. Ví dụ, việc vốn hóa các khoản đầu tư vào một dự án mới là một cách để doanh nghiệp thông báo với các cổ đông rằng lãnh đạo doanh nghiệp tin tưởng vào khả năng thành công của dự án. Thứ ba: Lý thuyết đại diện chỉ ra rằng nếu cả bên lập BCTC và bên sử dụng BCTC đều ý thức rõ về sự tồn tại của các xét đoán chủ quan trong lập BCTC thì họ sẽ tính đến yếu tố này trong các thỏa thuận.3/ Bản chất của ƣớc tính kế toán.
Ước tính kế toán được lập dựa trên những xét đoán chủ quan và chỉ là các giá trị ước tính gần đúng do không có giá trị chính xác hoặc không có các phương pháp xác định chính xác. Ước tính kế toán có thể liên quan đến các khoản mục đã phát sinh hoặc các khoản mục chưa phát sinh. Do tính chất không chắc chắn vốn có của các hoạt động kinh doanh nên một số khoản mục trên BCTC chỉ có thể được ước tính. Hơn nữa, các tính chất đặc thù của một tài sản, một khoản nợ phải trả hoặc một thành phần của vốn chủ sở hữu, hoặc cơ sở hay phương pháp đo lường được quy định trong khuôn khổ về lập và trình bày BCTC có thể dẫn đến yêu cầu phải ước tính một số khoản mục trên BCTC.
Mức độ không chắc chắn trong ước tính thay đổi tùy theo nội dung của ước tính kế toán, phạm vi sử dụng một phương pháp hoặc mô hình được chấp nhận rộng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 rãi và tính chủ quan của các giả định được sử dụng để lập ước tính kế toán. Việc ước tính thường liên quan đến các xét đoán dựa trên thông tin sẵn có tại thời điểm lập và trình bày BCTC. Đối với nhiều ước tính kế toán, việc xét đoán bao gồm việc đưa ra giả định về các vấn đề không chắc chắn tại thời điểm ước tính 1.4/ Các loại ƣớc tính kế toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 540 xác định các ước tính kế toán gồm: Ước tính các chỉ tiêu đã phát sinh - Dự phòng nợ phải thu khó đòi - Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho - Trích khấu hao tài sản cố định - Chi phí trả trước - Doanh thu ghi nhận trước …… Ước tính các chỉ tiêu chưa phát sinh.
- Dự phòng chi phí bảo hành - Chi phí trích trước….2/ Những vấn đề chung về dự phòng 1.1/ Khái niệm chung về dự phòng và ảnh hƣởng của nó tới kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ.1/ Khái niệm vế dự phòng. Theo CMKT Quốc Tế (IAS 37) thì dự phòng được định nghĩa như sau:“ Dự phòng là một khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian”. Trong đó, nợ phải trả là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ, mà việc thanh toán nghĩa vụ này được ước tính dẫn đến việc suy giảm các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp. Như vậy có thế nói đặc điểm chủ yếu của dự phòng là một ước tính kế toán, nó vừa mang tính chất dự đoán và vừa mang tính chất tạm thời.
Việc lập dự phòng là do nguyên tắc thận trọng trong kế toán, khi có những vấn đề chưa rõ ràng cần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 xem xét thận trọng để không làm cho tài sản và thu nhập bị thổi phòng, cũng như nợ phải trả và chi phí bị giấu bớt.2/ Ảnh hƣởng của dự phòng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trích lập dự phòng là một trong những công cụ tài chính an toàn có thể giúp doanh nghiệp đối phó với những rủi ro, tổn thất có thể xảy ra, phản ánh giá trị của tài sản trên BCTC một cách đáng tin cậy. Mặt khác trong điều kiện nền kinh tế khó khăn như hiện nay, kết quả hoạt động kinh doanh tiêu cực, nợ khó đòi tăng, hàng tồn kho chậm luân chuyển, thị trường chứng khoán giảm giá….Điều này dẫn đến nguy cơ các doanh nghiệp bỏ qua hoặc xác định một cách không phù hợp các ước tính kế toán có thể dẫn đến BCTC phản ánh không trung thực và hợp lý. Có thể nhận diện bằng một số biểu hiện sau: Một, bỏ qua hoặc thực hiện không đầy đủ các khoản dự phòng tổn thất tài sản gồm dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính…nhằm mục đích làm giảm chi phí, tăng lợi nhuận làm đẹp BCTC.
Hai, doanh nghiệp có thể lợi dụng quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán cho phép thay đổi ước tính kế toán vào cuối mỗi năm tài chính. Do đó, để giảm lỗ một số doanh nghiệp thay đổi thời gian hữu ích của tài sản cố định để kéo dài thời gian trích khấu hao hoặc kéo dài thời gian phân bổ chi phí trả trước nhằm giảm chi phí. Những thay đổi này hợp lý nếu điều kiện sử dụng, lợi ích kinh tế thu được từ tài sản có thay đổi tương ứng. Tuy nhiên, sẽ không hợp lý nếu sự thay đổi này đơn thuần chỉ nhằm mục đích giảm lỗ, tăng lợi nhuận vì mục đích chủ quan của doanh nghiệp.2/ Nguyên tắc chung trong trích lập một số khoản dự phòng.
Các khoản dự phòng gồm dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báo cáo của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 năm kế hoạch, nhằm bảo toàn vốn kinh doanh; đảm bảo cho doanh nghiệp phản ánh giá trị vật tư hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư tài chính không cao hơn giá cả trên thị trường và giá trị của các khoản nợ phải thu không cao hơn giá trị có thể thu hồi được tại thời điểm lập BCTC. Thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là thời điểm cuối kỳ kế toán năm. Trường hợp doanh nghiệp được BTC chấp thuận áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch (bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc 31/12 hàng năm) thì thời điểm lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính. Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập BCTC giữa niên độ thì được trích lập và hoàn nhập dự phòng ở cả thời điểm lập BCTC giữa niên độ.
Doanh nghiệp phải xây dựng cơ chế về quản lý vật tư, hàng hóa, quản lý công nợ để hạn chế các rủi ro trong kinh doanh. Đối với công nợ, hàng hóa, quy chế phải xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng người trong việc theo dõi, quản lý hàng hóa, thu hồi công nợ. Nghiêm cấm doanh nghiệp lợi dụng việc trích lập dự phòng để tính thêm vào chi phí các khoản dự phòng không có đủ căn cứ nhằm làm giảm nghĩa vụ nộp ngân sách. Những doanh nghiệp cố tình vi phạm sẽ bị xử phạt như hành vi trốn thuế theo quy định của pháp luật hiện hành.