phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán và nghiệp vụ kế toán huy động TGTK bằng Việt Nam Đồng trong ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – Chi nhánh Đồng Nai. Chƣơng 3: Một số kiến nghị đối với công tác kế toán nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm bằng Việt Nam Đồng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội – Chi nhánh ĐồngNai. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ NHẬN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CÓ KỲ HẠN TẠI NHTM 1.1 Khái quát về nghiệp vụ nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại NHTM 1.1 Khái niệm Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dƣới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho ngƣời gửi tiền theo thỏa thuận. [Luật TCTD 2010 – Khoản 13, Điều 14] Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền đƣợc ngƣời gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc đƣợc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm, trong đó ngƣời gửi tiền thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm về kỳ hạn gửi nhất định.2 Phân loại Tiền gửi tiết kiệm của mỗi ngân hàng sẽ có nhiều loại sản phẩm khác nhau. Nhƣng thƣờng tiền gửi tiết kiệm sẽ đƣợc phân thành hai hình thức đặc trƣng là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Là loại sản phẩm tiền gửi tiết kiệm mà cá nhân hoặc tổ chức gửi vào có tính kỳ hạn và chỉ đƣợc rút tiền khi kỳ hạn đó tới. Kỳ hạn sẽ đƣợc thỏa thuận khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng.
Theo nguyên tắc thì khách hàng không thể rút tiền trƣớc hạn nhƣng do có nhiều NHTM cạnh tranh với nhau nên vẫn có thể rút tiền trƣớc hạn nhƣng khách hàng sẽ không đƣợc nhận hoàn toàn ƣu đãi so với rút tiền đúng hạn mà sẽ là hƣỡng lãi không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có nhiều kỳ hạn khác nhau để KH có thể lựa chọn: kỳ hạn theo tuần, theo tháng, theo năm. Với thời hạn càng dài thì lãi suất của KH khi gửi tiền càng cao. 2 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Là loại sản phẩm tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không tính kỳ hạn cũng không giới hạn số ngày gửi tiền.
Dựa vào tổng số thời gian thực khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để tính tiền lãi, mức lãi suất sẽ tùy thuộc với mỗi ngân hàng. Tuy nhiên lãi suất sẽ thấp hơn so với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn do kỳ hạn không ổn định nên lãi suất sẽ thấp 1.3 Phƣơng pháp tính lãi Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm phù hợp với lãi suất thị trƣờng, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và an toàn hoạt động của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm đƣợc quy định trên cơ sở năm (365 ngày). Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tƣ 14/2017/TT-NHNN.
Đối với TGTK không kỳ hạn do khách hàng gửi tiền và rút tiền bất cứ lúc nào, không ổn định nên lãi suất áp dụng sẽ thấp nên tiền lãi tiền lãi sẽ đƣợc tính theo tháng bằng phƣơng pháp tích số cho một chu kỳ. Công thức tính lãi: Số tiền lãi = (Số dư thực tế x Số ngày duy trì số dư thực tế x lãi suất tính lãi) / 365 Đối với TGTK có kỳ hạn vì khách hàng gửi tiền theo kỳ hạn, ổn định nên ngân hàng sẽ tính tiền lãi dựa trên số dƣ ban đầu khi khách hàng gửi tiền vào với lãi suất khá cao. Nếu nhƣ khách hàng rút tiền khi chƣa tới kỳ hạn thì chỉ nhận đƣợc mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất đã thỏa thuận. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Thông tƣ 14/2017/TT-NHNN có quy định về các yếu tố tính lãi nhƣ sau: - Số dƣ thực tế là số dƣ đầu ngày tính lãi của số tiền của số dƣ tiền gửi mà bên nhận tiền gửi còn phải trả cho bên gửi tiền đƣợc sử dụng để tính lãi theo thỏa thuận và quy định về nhận tiền gửi - Số ngày duy trì số dƣ thực tế: Là số ngày mà số dƣ thực tế đầu mỗi ngày không thay đổi 3 - Lãi suất tính lãi: Đƣợc tính theo tỷ lệ %/năm 1.4 Các nội dung liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại NHTM Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dành cho KH cá nhân hay một tổ chức có nhu cầu gửi tiền.
Loại tiền gửi này ổn định, có tính chất an toàn, ít xảy ra rủi ro và còn có thể sinh lời. Lãi suất của tiền gửi tiết kiệm đóng một vai trò quan trọng để thu hút KH gửi tiền vì những KH gửi tiền thƣờng có thu nhập thƣờng xuyên và ổn định. - Quy trình để mở sổ tiết kiệm có kỳ hạn rất đơn giản, KH chỉ cần đến trực tiếp NH, kể cả chi nhánh lẫn hội sở và xuất trình giấy tờ tùy thân, điền các thông tin cá nhân vào mẫu giấy mở tiết kiệm có kỳ hạn. KH đăng ký chữ ký mẫu trong trƣờng hợp thay đổi chữ ký mẫu hoặc chƣa có chữ ký mẫu lƣu tại NH.
Sau đó, nhân viên NH sẽ hoàn tất thủ tục nhận tiền và cấp sổ tiết kiệm ngay cho KH. - Khi đến ngày đáo hạn thì số tiền gốc đã gửi tiết kiệm sẽ đƣợc hoàn trả. Khi đến ngày đáo hạn nếu không đƣợc sự cho phép của KH thì NH sẽ không đƣợc tự động gia hạn thêm một địn lỳ mới, NH sẽ chỉ chủ động quay vòng cả vốn và lãi thêm kỳ hạn để tính lãi kép cho KH (lãi sinh lãi) nếu nhƣ vào các kỳ tiếp theo KH không đến rút vốn và lãi. Trƣờng hợp này sẽ đƣợc các TCTD áp dụng theo đặc điểm riêng.
- NH áp dụng phƣơng pháp nhằm thù hút KH đó là cho phép KH nếu đã có thỏa thuận với NH khi gửi tiền sẽ đƣợc rút trƣớc kỳ hạn và phải thông báo trƣớc yêu cầu rút tiền trƣớc kỳ hạn của ngân hàng theo quy định của NH. Với trƣờng hợp KH những KH không đáp ứng đƣợc những quy định này vẫn sẽ đƣợc hƣởng lãi nhƣ bình thƣờng, tuy nhiên sẽ bị mất một khoản phí đối với việc rút tiền gửi tiết kiệm trƣớc kì hạn do NH quy định. - Theo sự lựa chọn của KH khi mở tiền gửi tiết kiệm sẽ có những thời điểm thanh toán toán lãi sau: trả lãi định kỳ, trả lãi trƣớc vào ngày gửi hay ngày cố định hoặc trả lãi khi đáo hạn. Các mô hình kế toán giao dịch nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại NHTM Hiện nay, tại ngân hàng tồn tại hai mô hình giao dịch đó là mô hình giao dịch truyền thống và mô hình giao dịch một cửa.
Tuy nhiêm, mô hình giao dịch một cửa đã và đang đƣợc các ngân hàng áo dụng rộng rãi thay cho mô hình truyền thống vì những 4 thuận lợi, tiện ích của nó đối với cả KH cũng nhƣ ngân hàng. - Mô hình giao dịch truyền thống Đối với mô hình giao dịch truyền thống, khi KH đến giao dịch với ngân hàng dù là một giao dịch đơn giản cũng phải trải qua nhiều cửa: giao dịch viên, kiểm soát viên và cán bộ nghiệp vụ có liên quan. Giả sử khi một KH giao dịch gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn với ngân hàng, đầu tiên họ phải đến gặp trực tiếp bộ phận ngân quỹ để nộp tiền, ký tên và nhận chứng từ. Sau khi bộ phận ngân quỹ kiểm ngân và kiểm soát thì chuyển chứng từ đã xác nhận tới kế toán.
Tiếp theo KH đến giao dịch với kế toán. Kế toán xử lý, hoạch toán và cung cấp chứng từ cho KH. Đây là quy trình đƣợc phân cấp rõ ràng, thủ tục kiểm soát phân chia trách nhiệm góp phần giảm thiểu rủi ro, gian lận và tăng thêm sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên nhƣợc điểm tồn tại chính là dữ liệu về mã số KH có thể không thống nhất dẫ tới việc khó quản lý các thông tin của KH.
Về phía KH, khi giao dịch nhƣ vậy khiến họ phải chờ đợi lâu, việc phải di chuyển nhiều khi thực hiện một giao dịch có thể khiên họ khó chịu, ngại giao dịch và ảnh hƣởng không tốt đến hình ảnh của ngân hàng. - Mô hình giao dịch một cửa Mô hình giao dịch một cửa ra đời đƣợc ngân hàng nhà nƣớc ban hành theo quyết định 1498/2005/QĐ – NHNN đã khắc phục đƣợc phần lớn những hạn chế trên, KH chỉ cần giao dịch với một giao dịch viên vừa làm nhiệm vụ kế toán viên, vừa là thủ quỹ hiện thu, chi tiền và các mức thu chi tiền, hạn mức xử lý nghiệp vụ, ngân hàng vẫn có thể kiểm soát rủi ro ở mức chấp nhận đƣợc thông qua việc quy định hạn mức cho mỗi giao dịch viên. Mô hình giao dịch một cửa gửi tiền, rút tiền: Sơ đồ 1.1: Quy trình giao dịch một cửa gửi tiền, rút tiền 5 KHÁCH HÀNG Chứng từ gửi, rút, chuyển tiền Giao dịch viên Kiểm soát Sai chứng từ Đúng Kiểm soát viên Kiểm soát Sai chứng từ Đúng Thu, chi hoặc chuyển khoản và ghi sổ (Nguồn: Giáo trình Kế toán ngân hàng, Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh) 6 1.
Phƣơng pháp kế toán nghiệp vụ nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại NHTM 1. Nguyên tắc kế toán - Nguyên tắc cơ sở dồn tích Mọi nghiệp vụ của ngân hàng đều liên quan đến tiền gửi, chi phí lãi, phí thu đƣợc phải đƣợc ghi vào sổ kế toán tại thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế tƣơng đƣơng tiền. Ngân hàng phải phản ánh và thu nhập đầy đủ đúng kỳ kế toán và đúng thực tế. - Nguyên tắc phù hợp Phải đƣa ra một khoản CP tƣơng ứng có liên quan khi ghi nhận về một khoản doanh thu, thu nhập.
Chi phí trả lãi cho các khoản tiền gửi đƣợc hạch toán tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp. Chi phí tƣơng ứng với doanh thu bao gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu hoặc chi phí của các kỳ trƣớc.