Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán hàng tồn kho trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Đầu Tư Nam Phát. Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ Phần Đầu Tư Nam Phát. 4 Luan van CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về hàng tồn kho trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm hàng tồn kho Tài sản là tất cả những nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, nắm giữ và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.Tài sản của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế. Hàng tồn kho là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hàng tồn kho thường bao gồm: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa. Ngoài ra còn có một số vật tư hàng hóa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng vì những lý do khác nhau nên không nằm trong kho như: Hàng đang đi đường, hàng gửi bán… Tại phần quy định chung, mục số 03, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 - Hàng tồn kho ban hành ngày 31/12/2001 quy định hàng tồn kho là những tài sản: - Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; - Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; - Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Hàng tồn kho bao gồm: Hàng mua đang đi đường là: Giá trị hàng hoá mua ngoài đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp còn đang trên đường vận chuyển, ở bến cảng, kho ngoại quan hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập kho (Theo thông tư 133/2016/TT-BTC) Nguyên vật, vật liệu là tài sản lưu động được mua sắm, dự trữ để phục vụ cho quá trình sản xuất bằng tài lưu động. Công cụ, dụng cụ là tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn để ghi nhận là tài sản cố định và công cụ, dụng cụ thường tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. 5 Luan van Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng trong quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó của DN đã qua kiểm tra kỹ thuật và được xác định là phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, đã được nhập kho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng. Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Trong doanh nghiệp thương mại, hàng hóa là những sản phẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái vật chất được doanh nghiệp mua vào với mục đích để kinh doanh, bán ra phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Đặc điểm hàng tồn kho Hàng tồn kho trong doanh nghiệp thường có nhiều loại, có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hàng tồn kho là những tài sản: - Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kỳ kinh doanh bình thường. - Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang.
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. - Hàng tồn kho bao gồm: Hàng hóa mua về để bán, hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến. - Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. - Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm.
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường. - Chi phí dịch vụ dở dang. - Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. - Giá hiện hành: Là khoản tiền phải trả để mua một loại hàng tồn kho tương tự tại ngày lập bảng cân đối kế toán.
Đối với doanh nghiệp thì hàng tồn kho là hàng hoá, là tài sản ngắn hạn dữ trữ của 6 Luan van doanh nghiệp có thời gian luân chuyển ngắn hạn, thường trong vòng 1 năm. Do đó, đòi hỏi công tác tổ chức, quản lý và hạch toán hàng tồn kho cũng có những đặc thù riêng. Nhìn chung, hàng tồn kho của doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, hàng tồn kho là một bộ phận tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp và chiếm tỷ trọng khá lớn trong tài sản lưu động của doanh nghiệp. Việc quản lý và sử dụng có hiệu quả hàng tồn khi có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ hai, hàng tồn kho trong doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, với chi phí cấu thành nên giá gốc hàng tồn kho khác nhau. Xác định đúng, đủ các yếu tố chi phí cấu thành nên giá gốc hàng tồn kho sẽ góp phần tính toán và hạch toán đúng, đủ, hợp lý giá gốc hàng tồn kho và chi phí hàng tồn kho làm cơ sở xác định lợi nhuận thực hiện trong kỳ. - Thứ ba, hàng tồn kho tham gia toàn bộ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có các nghiệp vụ xảy ra thường xuyên với tần suất lớn, qua đó hàng tồn kho luôn biến đổi về mặt hình thái hiện vật và chuyển hóa thành những tài sản ngắn hạn khác như tiền tệ, sản phẩm dở dang hay thành phẩm… - Thứ tư, hàng tồn kho trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau với đặc điểm về tính chất thương phẩm và điều kiện bảo quản khác nhau. Do vậy, hàng tồn kho thường được bảo quản, cất trữ ở nhiều địa điểm, có điều kiện tự nhiên hay nhân tạo không đồng nhất với người quản lý.
Vì lẽ đó, dễ xảy ra mất mát, công việc kiểm kê, quản lý, bảo quản và sử dụng hàng tồn kho gặp nhiều khó khăn, chi phí lớn. Phân loại hàng tồn kho Hàng tồn kho sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều vai trò và công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Trong điều kiện đó để phục vụ cho công tác quản lý và hạch toán HTK, các doanh nghiệp cần phải phân loại HTK. Hàng tồn kho được phân chia dựa trên các tiêu chí khác nhau: Theo công dụng của hàng tồn kho Ví dụ: Hàng tồn kho chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật tư thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản, vật liệu khác.
7 Luan van Việc phân chia hàng tồn kho một cách tỉ mỉ chi tiết trong doanh nghiệp sản xuất được thực hiện trên cơ sở xây dựng và lập sổ danh điểm vật liệu. Trong đó, vật liệu được chia thành các loại nhóm thứ bằng hệ thống ký hiệu các chữ số để thay thế cho tên gọi nhãn hiệu, quy cách vật liệu. Những ký hiệu đó được gọi là danh điểm vật liệu và được áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn doanh nghiệp, giúp cho các bộ phận trong doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý vật liệu. Mỗi loại vật liệu có thể sử dụng một số danh điểm vật liệu, số danh điểm vật liệu được xây dựng trên cơ sở số liệu của từng nhóm và đặc tính công dụng của chúng.
Tùy theo nhóm, thứ vật liệu mà số kết cầu số liệu gồm 1, 2 hoặc 3 chữ số. Theo mục đích và nội dung hàng tồn kho Ví dụ: Hàng tồn kho trực tiếp dùng vào sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho dùng cho các nhu cầu khác phục vụ ở quản lý phân xưởng, tổ đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp. Theo nguồn hình thành Ví dụ: Hàng tồn kho mua ngoài, hàng tồn kho tự chế hoặc thuê ngoài gia công chế biến, hàng tồn kho nhận vốn góp liên doanh của các đơn vị khác hoặc được cấp phát biếu tặng, hàng tồn kho thu hồi vốn góp liên doanh, hàng tồn kho khác như kiểm kê thừa, vật liệu không dùng hết. Yêu cầu quản lý hàng tồn kho và nhiệm vụ kế toán hàng tồn kho trong doanh nghiệp Yêu cầu quản lý hàng tồn kho Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng của hàng tồn kho, để hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được tiến hành đều đặn, thường xuyên, liên tục phải đảm bảo các loại hàng tồn kho đầy đủ về số lượng, kịp thời gian, đúng quy cách phẩm chất.
Mặt khác, mỗi loại hàng tồn kho khác nhau, được nhập từ nhiều nguồn cung cấp và giá cả biến động thường xuyên. Do vậy, quản lý tốt khâu thu mua, dự trữ và sử dụng hàng tồn kho là điều kiện cần thiết đảm bảo chất lượng của sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. 8 Luan van Trong khâu thu mua: Đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ về khối lượng, quy cách phẩm chất, chủng loại, giá mua và chi phí thu mua cũng như kế hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khâu dự trữ, bảo quản: Để tránh mất mát, hư hỏng, hao hụt, đảm bảo an toàn hàng tồn kho thì việc tổ chức tốt kho hàng, bến bãi, thực hiện đúng chế độ quản lý đối với từng loại hàng tồn kho rất quan trọng vì hàng tồn kho có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất và kết quả sản xuất kinh doanh.
Trong khâu sử dụng: Đòi hỏi sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định mức, dự toán chi phí nhằm hạ thấp mức tiêu hao hàng tồn kho trong giá thành sản phẩm, tăng thu nhập, tích lũy cho doanh nghiệp. Vì vậy trong khâu này cần tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng hàng tồn kho trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.