CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VE TO CHỨC KE TOÁN HÀNG HÓA 1. Kế toán hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của hàng hóa Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về hàng hóa, hàng hóa là sản phẩm lao động có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định của con người thông qua trao đồi, mua bán.
Hàng hóa là đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Công ty mua chúng để bán và thu lợi nhuận. Hàng hóa rất đa dạng, nhiều chủng loại khác nhau thường xuyên biến động trong quá trình kinh doanh nên phải theo dõi tình hình xuất nhập tồn trên các mặt: Số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị. Hàng hóa được thể hiện trên hai mặt giá tri và sỐ lượng.
Đơn vị đo lường xác định số lượng của hàng hóa theo tính chat lý hóa học như kg, lít, mét. Nó phản ánh quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Chất lượng hàng hóa được quyết định bởi tỷ lệ tốt, xâu và giá trị của hàng hóa. Mỗi hàng hoá đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá: - Giá tri sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm dé thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của con người.
Thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quyết định giá trị sử dụng của hàng hoá. - Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của con người kết tỉnh trong quá trình sản xuất hàng hóa. Đặc điểm hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại Hàng hóa đa dạng, phong phú: Sản xuất không ngừng phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng không ngừng thay đổi và có xu hướng tăng lên dẫn đến hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều chủng loại. Hàng hóa có các đặc tính vật lý, hóa học và sinh học: Mỗi loại hàng hóa đều có các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học.
Những đặc điểm này ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng hàng hóa trong mua bán, vận chuyền, dự trữ, bảo quản và bán hàng. Hàng hóa luôn thay doi về chất lượng, mẫu mã, quy cách: Sự thay đôi này phụ thuộc vào mức độ phát triển của sản phâm vào nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Nếu hàng hóa dịch chuyền theo nhu cầu tiêu dùng thì hàng hóa được tiêu dùng và đảo chiều. Trong lưu thông, hàng hóa chuyên đổi quyền sở hữu nhưng chưa được đưa vào sử dụng.
Kết thúc quá trình lưu thông, hàng hóa mới được sử dung dé đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuât. Hàng hóa có vị trí sống còn trong doanh nghiệp thương mại. Quá trình vận động của hàng hóa cũng chính là quá trình vận động vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. - Mua hàng: Đây là khâu đầu tiên trong chu chuyển hàng hóa tại các doanh nghiệp thương mại.
Nó huy động vốn kinh doanh từ vốn tiền tệ sang vốn hang hóa. - Ban hàng: Đây là khâu cuối cùng khi kết thúc thông quan hàng hóa, chuyển vốn kinh doanh từ vốn hàng hóa sang vốn tiền mặt. - Bao quản, dự trữ hàng hoá: Là khâu trung gian của quá trình lưu thông hàng hoá, vận chuyên hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng. Để quá trình kinh doanh diễn ra bình thường, doanh nghiệp phải có kế hoạch dự trữ hàng hóa hợp lý.
Vai trò của hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại Hang hóa là một phan của hàng tồn kho, thuộc tài sản lưu động nhưng nó không có tính thanh khoản cao. Việc kinh doanh mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà công ty nhận được. Vì vậy, cần phải giám sát chặt chẽ việc nhập, xuất, ton hang hóa về số lượng và chất lượng. Chiến lược kinh doanh phù hợp nhất sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất mà doanh nghiệp có thể nhận được.
Doanh nghiệp quan tâm đến lợi nhuận, chỉ cần một biến động nhỏ của giá cả hàng hóa, Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời hoặc vì những lý do khách quan cũng có thể ảnh hưởng đên lợi nhuận của mình. Đặc điểm của doanh nghiệp thương mại ảnh hưởng đến công tác quản lý và kế toán Doanh nghiệp thương mại không trực tiếp tao ra sản phẩm, hoạt động lưu thông mà tô chức lưu thông hàng hoá thông qua mua, bán và dự trữ hàng hoá. Tài sản chủ yếu là hàng hóa, chủng loại đa dạng, vòng quay vốn nhanh. Theo phạm vi kinh doanh mặt hàng ta có thể chia doanh nghiệp thương mại thành hai loại: - _ Doanh nghiệp kinh doanh hang hóa trong nước (mua bán nội dia) - _ Doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa nước ngoài (kinh doanh ngoại hối, xuất nhập khâu) Đặc điểm chủ yếu của hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ ảnh hưởng đên tô chức công tác kê toán bao gôm: Thương mại dịch vụ chịu tác động nhạy cảm của cơ chế thị trường : Đặc điểm này đòi hỏi kế toán phải cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về tình hình thị trường cho nhà quản lý để có phương án kinh doanh tối ưu.
Đối tượng nghiệp vụ phức tạp, vòng quay vốn nhanh: Đòi hỏi kế toán có chức năng tiếp nhận, xử lý phân tích và cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác nên việc tô chức công tác kế toán phải khoa học, hợp lý. Công nợ ton đọng nhiều, khó thu hôi: Kê toán phải theo dõi công nợ chỉ tiết với nhà cung cấp, khách hàng có liên quan trong từng giao dịch, mở số, thẻ khách hàng, nhà cung cấp cho từng đối tượng dé theo dõi và lập báo cáo công nợ theo yêu cầu quản lý. Do nợ đọng và rủi ro cao nên kế toán phải minh bạch và thực hiện kiểm tra kiêm soát thường xuyên. Đặc điểm loại mặt hàng kinh doanh: Kê toán phải mở số kế toán đê theo dõi chỉ tiết từng nhóm, đối tượng, địa điểm kinh doanh về tình hình nhập — tồn khi nào và về tình hình doanh thu bán hàng.
Cần áp dụng hình thức tính giá xuất, giá vốn hàng tồn kho hợp lý theo đặc điểm hàng hóa của doanh nghiệp. Yêu cầu quản lý hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại Hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại có tầm quan trọng rất lớn. Nó ảnh hưởng đến mục tiêu và sự tồn tại của doanh nghiệp, vì vậy bất kỳ doanh nghiệp thương mại nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, không bị gián đoạn thì phải có một lượng dự trữ nhất định. Tuy nhiên lượng hàng hoá dự trữ luôn biến động do các hoạt động kinh tế tài chính trong mua bán hàng hoá.
Vì vậy, đề làm tốt công tác quản lý hàng hóa, doanh nghiệp phải tổ chức giám sát chặt chẽ ở tất cả các khâu: thu mua, bảo quản, xuất bán, dự trữ. Trong quá trình đó, việc quản lý không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị của hàng hóa. Cụ thể, yêu cầu đối với công tác quản lý hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại là: Trong khâu mua hàng: Cần quản lý, giám sát việc thực hiện kế hoạch mua hàng về số lượng, quy cách, chủng loại, chất lượng. Phải phản ánh đầy đủ, chính xác giá mua, chỉ phí mua săm hàng hóa.
Kế hoạch mua hàng phải đúng thời hạn, đảm bảo quá trình mua hàng đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho hoạt động của doanh nghiệp đồng thời tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động. - Trong khâu bảo quản: Việc tô chức bảo quản hàng hoá trong kho cũng như trên đường vận chuyền phải có hệ thống kho bãi, phương tiện vận chuyên phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại hàng hoá dé dam bảo an toàn hàng hoá. hạn chế những thất thoát, hư hỏng, Mắt mát xảy ra trong quá trình lưu kho vận chuyền. Trong khâu dự trữ: Đề đảm bảo quá trình kinh doanh không bị ngừng trệ, gián đoạn do cung ứng không kip thời, hoặc gay ứ đọng vốn do dự trữ vượt mức, doanh nghiệp phải xác định mức dự trữ tối đa và tối thiểu.
Tóm lại, quản lý chặt chẽ từ khâu mua hàng, bảo quản vận chuyên, dự trữ là hết sức cần thiết theo hướng tài sản trong doanh nghiệp. Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán hàng hóa 1. Sự cần thiết của kế toán hàng hóa Trong doanh nghiệp thương mại, hàng hóa là một phần của hàng tồn kho, thuộc tài sản lưu động. Hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy cần phải theo dõi và quản lý thường xuyên. Kế toán hàng hóa là công cụ cần thiết và không thê thiếu của công tác quản lý hàng hóa cả về hiện vật và giá tri nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngăn ngừa hạn chế đến mức thấp nhất những hao hụt, thất thoát hàng hóa trong các khâu của quá trình kinh doanh thương mại, từ đó làm tăng lợi nhuận của công ty. Nhiệm vụ kế toán hàng hóa - _ Ghi chép chính xác số lượng, chất lượng, trị giá thực tế của từng loại hàng hóa nhập, xuất, tồn kho. - Van dụng đúng các phương pháp hạch toán nguyên vật liệu để kiểm tra việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục nhập xuất, thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán nguyên vật liệu.
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch mua sắm, tình hình xuất nhập kho, phát hiện và xử lý kịp thời hàng thừa, thiếu, ứ đọng, kém chất lượng. - Tham gia kiểm kê, đánh giá hàng hóa theo chế độ quy định của Nhà nước, lập báo cáo kế toán hàng hóa phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý, điều hành phân tích kinh tế. Nội dung hạch toán hàng hóa trong doanh nghiệp 1. Phân loại hàng hóa Theo tính chất thương mại kết hợp với đặc điểm kỹ thuật có các ngành: Khí điện, hóa chất mỏ, sản phẩm dầu mỏ, dệt may, vải bông, đồ da, cao su, hàng gốm sứ, thủy tinh, song mây, tre đan, rượu bia, thuốc lá.
Trong danh mục hàng hóa bao gồm nhiều nhóm hàng, trong mỗi nhóm lại có những mặt hàng cụ thể. Theo nguồn gốc sản xuất hàng hóa, hàng hóa bao gồm Nông sản, lâm sản, thủy sản, sản phẩm công nghệ, v. Theo lưu thông, có hàng bán buôn, hang bán lẻ, v. Theo phương thức vận động hàng hóa gồm hàng luân chuyền qua kho, hàng bán thắng.
Tính giá hàng hóa Việc hạch toán nhập - xuất - tồn hàng hóa trên tài khoản 156 phải theo nguyên tắc giá gốc quy định tại Chuẩn mực ké toán số 02 “Hàng tồn kho”.