Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu tại công ty chứng khoán Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Đầu tư Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Đầu tư Việt Nam Hoàng Thị Thùy Dung – Lớp K17- KTH GVHD: TS. Lê Thị Thu Hà Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh chứng khoán Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi.
Vì vậy, kinh doanh chứng khoán đƣợc hiểu là hoạt động mua bán chứng khoán của các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc những dịch vụ do các tổ chức này cung cấp cho khách hàng. Hoạt động này có thể diễn ra trên cả thị trƣờng sơ cấp và thị trƣờng thứ cấp. Hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK có một số đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất, hoạt động kinh doanh chứng khoán là hoạt động cung cấp và kinh doanh các dịch vụ liên quan đến chứng khoán nhƣ môi giới chứng khoán, tƣ vấn tài chính, bảo lãnh phát hành, tƣ vấn đầu tƣ, lƣu ký chứng khoán, quản lý tài sản,… Thứ hai, hoạt động kinh doanh chứng khoán là hoạt động có tính nhạy cảm cao và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của luật pháp. Mọi sự biến động về yếu tố vi mô, vĩ mô, tâm lý NĐT có thể ảnh hƣởng đến sự biến động giá chứng khoán và ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của các CTCK.
Thứ ba, các sản phẩm dịch vụ của các CTCK rất đa dạng nhƣng lại mang tính tƣơng đồng và dễ bắt chƣớc. Phần lớn các sản phẩm của các tổ chức kinh doanh chứng khoán lại tƣơng đồng với nhau nhƣ môi giới chứng khoán, tƣ vấn tài chính, bảo lãnh phát hành,…Nếu một CTCK này triển khai một dịch vụ có hiệu quả lập tức các CTCK khác cũng thực hiện theo, hay gọi là “bắt chƣớc”. Nhƣ vậy, sản phẩm dịch vụ mới đƣợc hiểu là sản phẩm dịch vụ mà CTCK đó đƣa ra thị trƣờng trƣớc đối thủ cạnh tranh. Yếu tố cạnh tranh giữa các tổ chức kinh doanh chứng khoán là thời gian, giá cả và chất lƣợng.
Thứ tư, khách hàng của tổ chức kinh doanh chứng khoán rất đông đảo và đa dạng. bao gồm NĐT cá nhân và tổ chức, tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết,…Vì vậy tổ chức kinh doanh chứng khoán cần xây dựng chiến lƣợc và cung ứng các sản phẩm dịch vụ phù hợp với từng đối tƣợng khách hàng khác nhau. Hoàng Thị Thùy Dung – Lớp K17- KTH GVHD: TS. Lê Thị Thu Hà Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng Thứ năm, là hoạt động có khả năng sinh lời cao và rủi ro lớn.
Sự sôi động của TTCK có thể mang lại cho NĐT, các tổ chức kinh doanh chứng khoán khoản thu lớn từ phí môi giới cũng nhƣ chênh lệch giá chứng khoán cao…Tuy nhiên, khi thị trƣờng suy giảm kéo dài, doanh thu môi giới cũng giảm, thua lỗ cũng đến từ hoạt động tự doanh có thể làm cho NĐT cũng nhƣ tổ chức kinh doanh chứng khoán thua lỗ lớn. Nghiệp vụ kinh doanh tạo doanh thu cho công ty chứng khoán Lĩnh vực kinh doanh của Công ty chứng khoán bao gồm những hoạt động kinh doanh sau: 1. Môi giới chứng khoán a. Khái niệm hoạt động môi giới chứng khoán TTCK là loại thị trƣờng đặc biệt ở đó thực hiện trao đổi mua bán các loại chứng khoán.
Trong thị trƣờng này có nhiều ngƣời tham gia, nhƣng rất ít ngƣời có khả năng phân tích và xác định đƣợc giá cả của chứng khoán trên thị trƣờng. chính vì vậy, trong quá trình hình thành và phát triển TTCK, môi giới chứng khoán đã trở thành hoạt động nghiệp vụ đặc trƣng và là nghiệp vụ cơ bản trên TTCK, nguyên tắc trung gian trở thành một nguyên tắc không thể thiếu, dần dần đƣợc mọi ngƣời chấp nhận và mọi giao dịch mua bán trên TTCK đều đƣợc thực hiện qua môi giới chứng khoán. TTCK càng phát triển ở trình độ cao, sản phẩm dịch vụ càng dồi dào về số lƣợng, phong phú về chủng loại càng đặt ra vấn đề làm thế nào để cung cấp cho NĐT thông tin cần thiết, đƣa ra những ý tƣởng đầu tƣ, những lời khuyên tức thời, những lời tƣ vấn mang tính chiến lƣợc và có những hoạt động hỗ trợ giúp cho NĐT thực hiện các giao dịch thu lợi nhuận cao nhất. Nghề môi giới chứng khoán trên TTCK đƣợc hình thành trong mối quan hệ qua lại giữa nhân viên môi giới với các công ty môi giới chứng khoán và chính mối tƣơng quan này lại tác động đến sự vận hành và phát triển của TTCK.
Nhƣ vậy, nghề môi giới chứng khoán là công việc chuyên môn của các cá nhân và tổ chức theo sự phân công lao động xã hội, đó là làm trung gian giúp cho việc mua, bán chứng khoán đƣợc thực hiện, kết nối nhu cầu bên mua với nhu cầu của bên bán chứng khoán. Hoàng Thị Thùy Dung – Lớp K17- KTH GVHD: TS. Lê Thị Thu Hà Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng b. Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán Môi giới chứng khoán có hai chức năng chính là cung cấp thông tin và tƣ vấn cho khách hàng và cung cấp sản phẩm , dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của khách hàng.
Một là, chức năng cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng Khi nắm giữ một lƣợng cổ phiếu nhất định, mỗi khi giá cổ phiếu biến động, NĐT lại phải đối mặt với ba lựa chọn: bán cổ phiếu đi để thu lời hay để chấm dứt tình trạng lỗ, tiếp tục nắm giữ với hy vọng cổ phiếu sẽ tiếp tục lên giá, hay mua thêm cổ phiếu đó để tăng thêm số lƣợng cổ phiếu nắm giữ. Để giúp khách hàng đƣa ra đƣợc quyết định đầu tƣ, nhân viên môi giới sẽ xem xét các yếu tố, nhƣ hệ số giá trên thu nhập, tình trạng chung trong nhóm ngành cổ phiếu, tình trạng tổng thể của thị trƣờng,…để từ đó nhà môi giới đƣa ra những khuyến nghị phù hợp, đem lại lợi ích vô cùng đáng giá cho từng khách hàng. Hai là, chức năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện các giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của khách hàng Ngƣời môi giới nhận đơn đặt hàng của khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Đây là cả một quá trình từ khi khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành giao dịch, xác nhận giao dịch, thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng.
Sau khi giao dịch đƣợc thực hiện, ngƣời môi giới phải tiếp tục công việc hậu mãi – tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng, tiếp tục đƣa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin cần thiết để đƣa ra những giải pháp hay chiến lƣợc mới phù hợp hơn cho khách hàng. Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán Vai trò của môi giới chứng khoán đƣợc thể hiện trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, vai trò trung gian – kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu tư và phát triển kinh tế Với vai trò là tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ tài chính, CTCK giúp cho hoạt động của TTCK đƣợc diễn ra một cách ổn định và hiệu quả. Trên thực tế, CTCK phải tìm kiếm khách hàng có vốn nhàn rỗi, có nhu cầu đầu tƣ vào các công cụ trên thị trƣờng tài chính, giúp biến vốn ngắn hạn (vốn tạm thời nhàn rỗi) thành vốn đầu tƣ dài hạn để cung cấp một cách tƣơng đối ổn định cho các doanh nghiệp đầu tƣ phát triển sản xuất. Hoàng Thị Thùy Dung – Lớp K17- KTH GVHD: TS.
Lê Thị Thu Hà Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng Thứ hai, giảm chi phí giao dịch Do lợi thế của việc chuyên môn hóa, môi giới chứng khoán giúp giảm thiểu chi phí giao dịch. Ngoài ra, sự hiện diện của một tổ chức trung gian chuyên nghiệp làm cầu nối cho bên mua và bên bán gặp nhau làm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi phí soạn thảo và chi phí giám sát thực thi hợp đồng. Trong trƣờng hợp này, môi giới chứng khoán giúp tiết kiệm chi phí giao dịch kể cả đối với từng giao dịch riêng lẻ, cũng nhƣ đối với tổng chi phí các giao dịch trên thị trƣờng. Thứ ba, tư vấn đầu tư chứng khoán Khi thực hiện chức năng môi giới chứng khoán, các CTCK và nhân viên môi giới phải cung cấp cho khách hàng thông tin về các loại chứng khoán và cách thức, thời điểm mua bán chứng khoán và các vấn đề có tính quy luật của hoạt động đầu tƣ chứng khoán.
Nghiêp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà không yêu cầu nhiều vốn. dịch vụ môi giới đầu tƣ đƣợc CTCK cung cấp qua các hình thức: khuyến cáo, lập báo cáo, tƣ vấn trực tiếp hoặc thông qua các ấn phẩm về chứng khoán. Thứ tư, tạo ra sản phẩm mới, phát triển sản phẩm và dịch vụ Hoạt động môi giới chính là nguồn cung cấp ý tƣởng thiết kế sản phẩm dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Về lâu dài sẽ cải thiện đƣợc tính đơn điệu của các sản phẩm và dịch vụ, nhờ đó giúp đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cơ cấu khách hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cƣ cho đầu tƣ phát triển.
Các CTCK không chỉ bán từng hàng hóa riêng biệt mà còn nhận quản lý vốn theo ủy thác của khách hàng, lập danh mục đầu tƣ phối kết hợp các sản phẩm để đạt đƣợc những mục đích nhất định. Nhờ vậy, các CTCK góp phần làm đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ của thị trƣờng. Thứ năm, cải thiện môi trường kinh doanh Nhờ cạnh tranh mà tất cả những nhà môi giới phải không ngừng trau dồi nghiệp vụ, nâng cao đạo đức và kỹ năng hành nghề, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và quy định của công ty. Bên cạnh đó, môi giới chứng khoán góp phần hình thành nền văn hóa đầu tƣ, cạnh tranh lành mạnh, tạo môi trƣờng pháp lý chặt chẽ và minh bạch trên thị trƣờng tài chính.
Hoàng Thị Thùy Dung – Lớp K17- KTH GVHD: TS. Lê Thị Thu Hà Khóa luận tốt nghiệp 8 Học viện Ngân hàng 1. Đầu tư chứng khoán – Tự doanh a.