Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Jtec Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Jtec Hà Nội 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp.1 Khái niệm, phân loại doanh thu 1.1 Khái niệm Doanh thu có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Trƣớc hết doanh thu là nguồn tài chính quan trọng để đảm bảo trang trải các khoản chi phí hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tái sản xuất đơn giản cũng nhƣ tái sản xuất mở rộng, là nguồn để trang trải các khoản chi phí về tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, để trả lƣơng, thƣởng cho ngƣời lao động, trích Bảo hiểm xã hội, nộp thuế theo luật định, là nguồn để có thể tham gia góp vốn cổ phần, tham gia liên doanh liên kết đối với các đơn vị khác. Trƣờng hợp doanh thu không thể đảm bảo các khoản chi phí đã bỏ ra thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về tài chinh.
Hiện tại có nhiều quan niệm khác nhau về doanh thu nhƣ: Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS18 – Doanh thu thì “ Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không bao gồm khoản góp vốn của các chủ sở hữu vốn”[4, Tr 144] Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác thì “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu” [1, Tr 46] “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu”[1, Tr 46] 9 Theo Thông tƣ 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 thì Doanh thu đƣợc định nghĩa: Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền [Điều 78 –TT200] Nhƣ vậy doanh thu đóng vai trò quan trọng, là nguồn bù đắp các khoản chi phí mà DN đã chi ra đồng thời làm tăng vốn chủ sở hữu.
Việc hạch toán đúng doanh thu sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp xác định đúng đắn KQKD.2 Phân loại doanh thu Để thuận tiện cho công tác quản lý và kế toán doanh thu, doanh thu từ hoạt động kinh doanh có thể đƣợc phân loại theo những tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích, yêu cầu của quản lý và kế toán. Một vài cách phân loại: (a) Phân loại theo hoạt động kinh doanh, doanh thu được chia thành hai loại: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ bao gồm: doanh thu bán buôn, doanh thu bán lẻ, doanh thu gửi bán đại lý - Doanh thu hoạt động tài chính: Là toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động đầu tƣ tài chính nhƣ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận đƣợc chia Cách phân loại này giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định đƣợc tỷ trọng của từng loại doanh thu, xác định tổng mức lƣu chuyển hàng hoá theo từng loại, từ đó hoạch định đƣợc mức luân chuyển hàng hoá, xây dựng mức dự trữ hàng hoá cần thiết, tránh đƣợc tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hƣởng không tốt cho quá trình hoạt động KD của DN. (b) Phân theo phương thức thanh toán tiền hàng doanh thu đƣợc chia thành doanh thu thu tiền ngay, doanh thu trả chậm, doanh thu nhận trƣớc. (c) Phân loại theo mối quan hệ với điểm hoà vốn, doanh thu được chia thành - Doanh thu hoà vốn: doanh thu của khối lƣợng bán ở điểm hoà vốn - Doanh thu an toàn: Phần chênh lệch của doanh thu thực hiện đƣợc với doanh thu hoà vốn 10 (d) Phân loại theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của DN, doanh thu đƣợc chia thành - Doanh thu từ bên ngoài: toàn bộ doanh thu của khối lƣợng hàng hoá, dịch vụ bán ra thực tế của DN cho khách hàng, hay DT từ các hoạt động đầu tƣ tài chính thu đƣợc từ bên ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của DN - Doanh thu nội bộ: doanh thu của khối lƣợng hàng bán trong nội bộ hay doanh thu từ các hoạt động tài chính thu đƣợc từ hệ thống tổ chức kinh doanh của DN nhƣ các giao dịch giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty,.
Ngoài các cách phân loại trên doanh thu còn đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác. Nhìn chung mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa nhất định với nhà quản trị DN. Do đó tuỳ thuộc yêu cầu của nhà quản trị DN mà kế toán thực hiện tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về doanh thu theo những cách thức nhất định.3 Điều kiện ghi nhận doanh thu. * Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng.
Doanh thu bán hàng đƣợc ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngƣời mua - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa nhƣ ngƣời sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; - Doanh thu đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn - Doanh nghiệp đã thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng - Xác định đƣợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. * Điều kiện ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ. Theo điều 79 thông tƣ 200/2014/TT-BTC và điều 57 Thông tƣ 133/2016/TT- BTC quy định về việc hạch toán doanh thu dịch vụ nhƣ sau: - Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau: + Doanh thu đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn. Khi hợp đồng qui định ngƣời 11 mua đƣợc quyền trả lại dịch vụ đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ đƣợc ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và ngƣời mua không đƣợc quyền trả lại dịch vụ đã cung cấp + Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
+ Xác định đƣợc phần công việc đã hòa thành vào thời điểm báo cáo. + Xác định đƣợc chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch và cung cấp dịch vụ đó * Đối với doanh thu hoạt động tài chính thì thời điểm xác định doanh thu đƣợc qui định nhƣ sau: +Lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tƣ trái phiếu, tín phiếu, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, tiền bản quyền. xác định theo thời gian của hợp đồng cho vay, cho thuê, bán hàng hoặc kỳ hạn nhận lãi. + Cổ tức, lợi nhuận đƣợc chia xác định khi có nghị quyết hoặc quyết định chia.
+ Lãi chuyển nhƣợng vốn, lãi bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh xác định khi các giao dịch hoặc nghiệp vụ hoàn thành; + Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại nợ phải thu, nợ phải trả và số dƣ ngoại tệ xác định khi báo cáo tài chính cuối năm. Khái niệm, phân loại chi phí 1.1 Một số khái niệm về chi phí Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố là tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình SXKD đã tạo ra các chi phí tƣơng ứng, đó là các chi phí về tƣ liệu lao động, chi phí về đối tƣợng lao động và chi phí về lao động sống. Trên phƣơng diện này, chi phí sản xuất đƣợc hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN đã chi ra trong quá trình sản xuất, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.
Ngoài khái niệm chi phí sản xuất nêu trên, còn rất nhiều khái niệm chi phí sản xuất theo các quan điểm khác nhau. 12 Trên góc độ kế toán tài chính, chí phí đƣợc coi nhƣ là một khoản phí tổn thực tế phát sinh gắn với hoạt động của DN để đạt đƣợc một mục đích cụ thể trong kinh doanh. Chi phí sản xuất hay chi phí chế tạo sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất. Nó đƣợc định lƣợng bằng một sự giảm sút về giá trị tài sản hoặc sự gia tăng một khoản nợ phải trả, kết quả làm cho vốn chủ sở hữu giảm xuống nhƣng không phải do phân phối vốn cho các chủ sở hữu.
Trên góc độ kế toán quản trị, với mục đích cung cấp thông tin chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản lý, chi phí đƣợc hiểu theo nhiều hƣớng, nhiều cách khác nhau. Theo đó, chi phí có thể là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; cũng có thể là dòng phí tổn ƣớc tính để thực hiện những dự án, những phí tổn mất đi do lựa chọn phƣơng án, hy sinh cơ hội kinh doanh. Nhƣ vậy, chi phí có thể đã thực tế phát sinh, cũng có thể chƣa phát sinh mà mới chỉ ƣớc tính.