Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của đề tài Chương 2: Những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất. Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phú Tân. Luan van 7 Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Phú Tân CHƯƠNG 2: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2. Một số vấn đề lý thuyết cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 2.
Một số định nghĩa, khái niệm liên quan đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 2. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm a) Khái niệm chi phí sản xuất Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình biến đổi một cách có ý thức và có mục đích các yếu tố sản xuất đầu vào để hình thành các sản phẩm lao vụ, dịch vụ nhất định. Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh nhất định phải kết hợp hài hòa cả 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Sự tham gia của cà 3 yếu tố trên vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có sự khác nhau, từ đó hình thành nên các chi phí sản xuất tương ứng.
Để đo lường các hao phí đã bỏ ra trong một kỳ nhất định nhằm tổng hợp các chi phí, tính giá thành sản phẩm người ta dùng thước đo tiền tệ. Theo chế độ kế toán Việt Nam: “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ các hao phí lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ”. Trong đó, chi phí lao động sống bao gồm: Tiền lương, các khoản trích theo lương và các khoản có tính chất lương. Còn lao động vật hóa bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhiên liệu….
Luan van 8 Trên góc độ kế toán tài chính: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Chi phí của doanh nghiệp có thể hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Trên góc độ kế toán quản trị, do mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Vì vậy, ngoài việc nhận thức chi phí như trong kế toán tài chính, các nhà quản trị còn cần phải nhận thức chi phí theo góc độ nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Do đó, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận, từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng hóa tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ.
Những chi phí này có thể là những phí tổn được ước tính, dự kiến trước hoặc những phí tổn mất đi do chọn phương án này thay cho phương án khác,…do đó không chú trọng đến các chứng từ đảm bảo tính pháp lý như trong kế toán tài chính. Có thể kết luận rằng: chi phí sản xuất có thể hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất. b) Khái niệm giá thành sản phẩm Một trong những nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung là nguyên tắc hoạt động liên tục. Theo đó, quá trình hạch toán được thực hiện trên giả định doanh nghiệp hoạt động vô thời hạn hoặc ít nhất không bị giải thể trong tương lai gần.Trong quá trình đó, hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường.Các chi phí sản xuất không ngừng phát sinh và chuyển hoá thành giá Luan van 9 trị của sản phẩm chế tạo.
Việc xác định thời điểm, thời kỳ để tập hợp chi phí sản xuất và tính toán xem để có được một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định, doanh nghiệp đã phải bỏ ra bao nhiêu chi phí, chỉ là một điểm ngắt chủ quan của chủ thể quản lý. Do vậy, hiển nhiên là, tại thời điểm tính toán đó thường tồn tại những sản phẩm đã được hoàn thành và những sản phẩm còn đang chế tạo dở dang, chưa hoàn thành công đoạn sản xuất cuối cùng. Toàn bộ chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ nằm trong giá trị của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Chi phí sản xuất tập hợp được tạo nên giá trị của sản phẩm hoàn thành được gọi là giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống vào lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến khối lượng, công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ. Xét về bản chất giá thành là việc chuyển dịch vốn doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn thành, nó có chức năng là: thước đo bù đắp chi phí và lập giá. Trên góc độ doanh nghiệp, việc tiết kiệm hay lãng phí về CPSX ảnh hưởng trực tiếp đến việc giảm hay tăng giá thành sản phẩm, đây là vấn đề các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm bởi vì giá thành sản phẩm càng thấp thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao và ngược lại. Do vậy phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu quan trọng của tất cả các doanh nghiệp sản xuất.
Tóm lại, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Giá thành được tính toán chính xác cho từng loại sản phẩm hoặc lao vụ cụ thể (đối tượng tính giá thành) và chỉ tính toán xác định đối với số lượng sản phẩm hoặc lao vụ đã hoàn thành khi kết thúc một số giai đoạn công nghệ sản xuất (Nửa thành phẩm). Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Luan van 10 Nhằm mục đích tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, đầy đủ, thì công việc đầu tiên các nhà quản lý phải thực hiện đó là xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm. Vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lý luận và thực tế kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm. Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thì cần phải căn cứ vào: - Đặc điểm và công dụng của chi phí; - Đặc điểm tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp; - Quy trình công nghệ sản xuất và chế tạo sản phẩm; - Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí của doanh nghiệp; - Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá; - Khả năng, trình độ quản lý, trình độ kế toán của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là: - Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng; - Từng phân xưởng giai đoạn công nghệ sản xuất; - Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp.
Xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở, là tiền đề quan trọng để kiểm tra, kiểm soát quá trình phát sinh chi phí, tăng cường trách nhiệm vật chất đối với các bộ phận và cung cấp số liệu cần thiết cho việc tính các chỉ tiêu giá thành. Đối tượng tính giá thành sản phẩm Luan van 11 Đối tượng tính giá thành là xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ đòi hỏi phải tính giá thành đơn vị. + Xác định đối tượng giá thành chính là việc xác định sản phẩm, bán thành phẩm, công việc, lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay trên dây chuyền sản xuất tùy theo mục tiêu bán ra sản phẩm gì của quá trình sản xuất ra sản phẩm; + Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm được xác định là đối tượng tính giá thành.
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng thì từng loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm thuộc từng đơn đặt hàng hoàn toàn là đối tượng tính giá thành. Doanh nghiệp tổ chức sản xuất khối lượng lớn, mặt hàng ổn định thì từng loại sản phẩm, dịch vụ và đơn vị sản phẩm dịch vụ sản xuất hoàn thành là đối tượng tính giá thành; + Đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành cuối cùng của quy trình công nghệ còn các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì khối lượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng và cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm của sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất Xuất phát từ sự khác nhau cơ bản giữa hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm mà có sự phân biệt giữa phương pháp hạch toán chi phí và phương pháp tính giá thành sản phẩm. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí.