CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ 1. Khái quát chung về hoạt động kinh doanh dịch vụ 1. Khái niệm Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về dịch vụ: Adam Smith từng định nghĩa rằng: “ Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong các nghề như cha đạo, luật sư, ca sĩ, vũ công… Công việc của tất cả bọn họ đều bị lụi tàn ngay sau khi họ sản xuất ra”. Từ định nghĩa này ta thấy Adam Smith muốn nhấn mạnh điểm không lưu trữ được của sản phẩm dịch vụ, có nghĩa là nó được sản xuất và tiêu thụ đồng thời.
Bên cạnh đó lại có định nghĩa cho rằng dịch vụ là những thứ vô hình không nhìn thấy được, không mua bán được. Mác cho rằng: “ Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà nền kinh tế phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy liên tục để thoả mãn nhu cầu của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển”. Dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa hàng hóa - dịch vụ.
Tóm lại, hoạt động dịch vụ là các hoạt động có tính chất chuyên nghiệp do các tổ chức hoặc cá nhân tiến hành nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ Kinh doanh dịch vụ là một ngành chuyên cung cấp những lao vụ, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và thỏa mãn các nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân. Hoạt động kinh doanh dịch vụ rất đa dạng, bao gồm các hoạt động kinh doanh bưu điện, vận tải, may đo, sửa chữa, dịch vụ khoa học kĩ thuật, dịch vụ tư vấn, dịch vụ vui chơi giải trí, chụp ảnh, cho thuê đồ dùng, cắt tóc, giặt là. Hoạt động kinh doanh dịch vụ có những đặc điểm chủ yếu sau: NGUYỄN THỊ TRANG – K20KT3.
Trang 8 KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ + Sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể. Quá trình sản xuất, phục vụ, tiêu thụ luôn gắn liền với nhau. Do đó không thể phân biệt một cách rõ ràng chi phí ở từng khâu sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy tùy theo từng hoạt động dịch vụ mà xác định nội dung chi phí phù hợp với yêu cầu tính giá thành.
+ Sản phẩm dịch vụ thường được tiêu thụ ngay không nhập kho. + Trong các yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm dịch vụ chủ yếu là chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí lao động sống, chi phí dịch vụ mua ngoài, còn các chi phí khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ hoặc không có ví dụ như chi phí vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, nhiên liệu. + Hoạt động kinh doanh dịch vụ có tính rủi ro cao. Có những loại hoạt động dịch vụ để hoàn thành sản phẩm dịch vụ phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nhau nhưng đôi khi vẫn không hoàn thành được số sản phẩm mong muốn, trong khi kết quả của nó (nếu có) thì rất nhiều ngành khác nhau được hưởng.
Ví dụ như hoạt động hội chợ triển lãm, chi phí cho trước ngày tổ chức hội chợ triển lãm là rất lớn như chi phí quảng cáo, in giấy mời, chi phí chuẩn bị cho các gian hàng. nhưng kết quả có thể có rất ít khách hàng. Khi đã có khách hàng thì rất nhiều ngành khác nhau được hưởng thu nhập như khách sạn, vận chuyển, bưu điện, hải quan, thuế. + Tính cạnh tranh cao do sản phẩm dịch vụ hoàn thành không nhập kho thành phẩm, sản phẩm không tồn kho, không lưu trữ được.
Người sản xuất sản phẩm dịch vụ chỉ lưu trữ dưới dạng tiền sản phẩm dịch vụ chứ không phải là sản phẩm dịch vụ. Do sản phẩm dịch vụ hoàn thành thường xác định là tiêu thụ ngay; tuy nhiên đối với một số dịch vụ như may đo, sửa chữa. tuy đã hoàn thành nhưng chưa ghi doanh thu do chưa trả hàng cho khách thì chi phí cho những dịch vụ đó vẫn coi là chi phí của sản phẩm chưa hoàn thành. Tuy nhiên, các hoạt động dịch vụ thường không tính được chí phí sản phẩm dở dang.
+ Hoạt động dịch vụ mang tính chất chuyên nghiệp, diễn ra trong nền kinh tế thị trường với mục đích sinh lời thông qua phát hiện và đáp ứng một nhu cầu nào đó của xã hội. + Doanh nghiệp dịch vụ được tổ chức, hoạt động và quản lý tương tự như doanh nghiệp sản xuất, đều phải tuân theo các quy định của pháp luật. NGUYỄN THỊ TRANG – K20KT3. Trang 9 KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ + Hoạt động dịch vụ cũng đòi hỏi phải tuân theo các quy trình thủ tục nhất định tương tự như quy trình công nghệ sản xuất.
Chẳng hạn như dịch vụ lữ hành được bắt đầu bằng ký hợp đồng tour, tổ chức thực hiện tour, quyết toán tour, thanh lý hợp đồng. + Các hoạt động dịch vụ thường đa dạng, phong phú, vừa mang tính tổng hợp, vừa mang tính cá biệt nhằm đáp ứng tối đa các nhu cầu của khách hàng. Phân loại hoạt động kinh doanh dịch vụ Kinh doanh dịch vụ là một trong những ngành kinh tế mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau rất phong phú. Căn cứ vào tính chất của hoạt động kinh doanh dịch vụ, ta có thể phân loại theo các nhóm sau: + Hoạt động kinh doanh mang tính cung cấp dịch vụ: Thuộc loại này gồm có các hoạt động như: Bưu chính viễn thông, hướng dẫn du lịch, kinh doanh khách sạn, kinh doanh vận chuyển, kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí.
+ Hoạt động kinh doanh mang tính chất sản xuất: Gồm các hoạt động kinh doanh ăn uống, sản xuất hàng lưu niệm, sản xuất hàng ăn uống. + Hoạt động kinh doanh mang tính kinh doanh hàng hóa: Tiêu thụ những hàng hóa mua sẵn của các doanh nghiệp sản xuất hoặc thương mại như các vật phẩm phục vụ khách du lịch, hàng lưu niệm, đồ uống. Bên cạnh đó người ta có thể căn cứ vào một số tiêu thức khác nhau để phân loại dịch vụ cho phù hợp. ∗ Căn cứ vào mức độ hoạt động có thể chia thành: + Dịch vụ chính: DV được công ty sử dụng thường xuyên, liên tục để cung ứng cho khách hàng.
+ Dịch vụ kèm theo: DV hỗ trợ, bổ sung thêm cho dịch vụ chính để nhằm thu hút cũng như tăng thêm khả năng cạnh tranh. + Dịch vụ thuần tuý: là loại DV có vai trò cốt lõi trong sản phẩm cung cấp cho khách hàng, không có hoặc hầu như không có sự tham gia của hàng hoá hữu hình như DV bảo hiểm, DV đào tạo… ∗ Căn cứ vào nhóm dịch vụ có thể chia thành: - Nhóm dịch vụ mang tính chất sản xuất: để có thể CCDV cho khách hàng cần phải chế biến hoặc sản xuất ra sản phẩm như DV ăn uống… NGUYỄN THỊ TRANG – K20KT3. Trang 10 KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ - Nhóm dịch vụ thuần tuý góp phần chuyển hoá hình thái giá trị của sản phẩm hàng hoá: DV bảo hiểm, DV đào tạo,… ∗ Căn cứ vào tính chất hoạt động dịch vụ có thể chia thành: dịch vụ sản xuất, hướng dẫn sử dụng, nhận bảo hành, sửa chữa, bán phụ tùng, tư vấn… Do đó, dịch vụ nói chung là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp. Dịch vụ thường được phân ra 2 mức: dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.
∗Căn cứ vào tính chất hoạt động dịch vụ + Dịch vụ có tính chất sản xuất: Loại dịch vụ này có mục tiêu kinh doanh, thực hiện lợi nhuận và kết quả hoạt động DV được tính vào GDP của nền kinh tế: dịch vụ lữ hành, khách sạn, vận tải, bưu chính …. + Dịch vụ có tính chất sự nghiệp: loại dịch vụ này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của dân cư, không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu: dịch vụ đào tạo, khám chữa bệnh… + Dịch vụ hành chính: là DV giải quyết các giấy tờ. Loại dịch vụ này do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện: dịch vụ công chứng, chuyển quyền sở hữu… ∗ Căn cứ theo tính chất sở hữu của chủ thể cung cấp DV + Dịch vụ do các chủ thể cá nhân cung cấp: DV thám tử… + Dịch vụ do các cơ quan chức năng nhà nước cung cấp: DV đăng kiểm… + Dịch vụ do cả các nhân và các cơ quan chức năng nhà nước cung cấp: công chứng, du lịch, bưu chính… ∗ Căn cứ vào mục tiêu hoạt động + Dịch vụ có mục tiêu lợi nhuận: thường là các DV có tính chất sản xuất do các DN, cá nhân thực hiện đẻ đạt được mục đích sinh lời. + Dịch vụ phi lợi nhuận: thường là DV do nhà nước thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu chung của cộng đồng.
Một số ngành dịch vụ phổ biến hiện nay - Cung cấp điện nước. - Môi giới chứng khoá tư vấn nhà đất. - Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, … - Y tế, chăm sóc sức khỏe. - Giáo dục, thư viện, bảo tàng….
NGUYỄN THỊ TRANG – K20KT3. Trang 11 KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ - Du lịch, khách sạn, cho thuê nhà… - Thông tin, bưu chính, internet. - Cung cấp năng lượng. - Giải trí, thể thao.
Khái quát, ý nghĩa, vai trò củakế toán chi phí, doanh thu và xác định kết quảCCDV 1. Đặc điểm kế toán CCDV Dịch vụ là một ngành kinh tế có nhiều đặc điểm riêng, khác biệt với các ngành sản xuất vật chất khác. Những điểm đặc thù của ngành kinh doanh dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến công tác kế toán nói chung và công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ nói riêng, cụ thể: Một là, kết quả hoạt động cung cấp dịch vụ thường không có hình thái hiện vật cụ thể mà được thể hiện bằng lợi ích cho khách hàng thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng như: Nhu cầu thông tin, nhu cầu di chuyển, nhu cầu tri thức…. Đặc điểm này dẫn đến thực tế là quy trình sản xuất, tiêu thụ và quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ thường khó tách bạch một riêng cách biệt.