CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1. Khái niệm về kế toán và xác định kết quả kinh doanh Bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp, là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn với phần lớn rủi ro hoặc lợi ích cho khách hàng, đồng thời được khách hàng thanh toán và chấp nhận thanh toán (Theo tác giả Lê Minh Nhất (2015), đề cương bài giảng kế toán tài chính, Khoa Kế toán – Kiểm toán trường Đại học Lâm Nghiệp) Doanh nghiệp với tư cách là người bán phải chuyển giao thành phẩm cho người mua theo đúng các điều khoản quy định trong hợp đồng kinh tế đã ký giữa 2 bên. Quá trình bán hàng được coi là kết thúc khi đã hoàn tất việc giao hàng và bên mua đã trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán cho số thành phẩm đó.
Khi quá trình bán hàng chấm dứt doanh nghiệp sẽ có một khoản doanh thu về bán hàng. Kết quả kinh doanh là chỉ tiêu hiệu quả lưu chuyển thành phẩm, hàng hóa. Tổng hợp và phân bổ chính xác chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho thành phẩm bán ra, tính đúng trị giá vốn thực tế của thành phẩm bán ra trong kì từ đó xác định chính xác kết quả bán hàng. Kết quả bán hàng được biểu hiện dưới dạng chỉ tiêu lợi nhuận (lãi, lỗ) về tiêu và được tính như sau: (Theo tác giả Lê Minh Nhất (2015), đề cương bài giảng kế toán tài chính, Khoa Kế toán – Kiểm toán trường Đại học Lâm Nghiệp) Trong đó: 4 Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: giảm giá hàng bán, hàng bán trả lại và chiết khấu thương mại.
Vai trò và nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Đối với các doanh nghiệp bán hàng là khâu cuối cùng trong khâu sản xuất kinh doanh nên nó quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Mọi hoạt động công tác khác đều nhằm mục đích là bán được hàng hoá và chỉ có bán hàng mới thực hiện được mục tiêu trước mắt đó là lợi nhuận, bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra từ khâu bán hàng, hàng hoá chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành và tiếp tục vòng mới, doanh nghiệp tiếp tục đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy hoạt động bán hàng là hoạt động nghiệp vụ cơ bản nhất, nó chi phối và quyết định các nghiệp vụ khách hàng của doanh nghiệp.
Nếu khâu bán được tổ chức tố, hàng hoá bán ra được nhiều sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên, ngược lại nếu khâu bán hàng không được tổ chức tốt sẽ làm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm. Tổ chức tốt khâu bán hàng làm tăng lượng hàng hoá bán ra, tăng khả năng thu hồi vốn nhanh, từ đó làm tăng vòng quay của vốn lưu động cho phép tiết kiệm một khoản vốn đầu tư sản xuất kinh doanh hàng hoá khác, hoặc cho phép mở rộng quy mô kinh doanh hàng hoá của doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng được thực hiện, sản phẩm của doanh nghiệp bán được chứng tỏ thị trường đã chấp nhận sản phẩm, doanh nghiệp tạo được chữ tín trên thị trường. Bán hàng là khâu có quan hệ mật thiết với khách hàng, vì vậy khâu này ảnh hưởng tiếp tới niềm tin, uy tín và tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp.
Đây chính là vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. 5 Đối với các doanh nghiệp, công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có vai trò thực sự quan trọng, nó cung cấp thông tin về tình hình bán hàng và kết quả đạt được từ việc bán hàng. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác bán hàng và từng bước hạn chế sự thất thoát về hàng hóa, phát hiện được những hàng hóa chậm luân chuyển để có biện pháp xử lý thích hợp nhằm thúc đẩy quá trình tuần hoàn vốn. Các số liệu mà kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cung cấp giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được kết quả kinh doanh, từ đó tìm ra những thiếu sót để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Ngoài ra thông qua số liệu mà kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cung cấp, các bạn hàng của doanh nghiệp biết được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó có quyết định đầu tư, cho vay vốn, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp. Các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán ảnh hưởng để kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần tuân thủ theo các quy định trong các Chuẩn mực kế toán liên quan: VAS 01- Chuẩn mực chung, VAS 02- Hàng tồn kho, VAS 14- Doanh thu và thu nhập khác Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung Ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của bộ trưởng bộ tài chính. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính của doanh nghiệp, nhằm: - Làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất - Giúp cho doanh nghiệp ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính theo các Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán đã ban hành một cách thống 6 nhất và xử lý các vấn đề chưa được quy định cụ thể nhằm đảm bảo cho các thông tin trên báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý - Giúp cho kiểm toán viên và người kiểm tra kế toán đưa ra ý kiến về sự phù hợp của báo cáo tài chính với Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Chuẩn mực kế toán số 02- Hàng tồn kho: Ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của bộ trưởng bộ tài chính. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho, gồm: – Xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho vào chi phí; – Ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán hàng tồn kho theo nguyên tắc giá gốc trừ khi có Chuẩn mực kế toán khác quy định cho phép áp dụng phương pháp kế toán khác cho hàng tồn kho. Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau: hàng tồn kho: là những tài sản: - Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; - Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang Chuẩn mực kế toán số 14: Doanh thu và thu nhập khác Ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của bộ trưởng bộ tài chính. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: các loại doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. 7 Chuẩn mực này áp dụng trong kế toán các khoản doanh thu và thu nhập khác phát sinh từ các giao dịch và nghiệp vụ sau: - Bán hàng: bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hóa mua vào; - Cung cấp dịch vụ: thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán; - Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia.
Tiền lãi: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền, các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp, như: lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán… Tiền bản quyền: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tài sản, như: bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm máy vi tính…; Cổ tức và lợi nhuận được chia: là số tiền lợi nhuận được chia từ việc nắm giữ cổ phiếu hoặc góp vốn. Các khoản thu nhập khác ngoài các giao dịch và nghiệp vụ tạo ra doanh thu kể trên 1. Các phương thức bán hàng và phương thức thanh toán 1. Phương thức bán hàng Phương thức bán hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng các tài khoản kế toán phản ánh tình hình nhập xuất kho thành phẩm, hàng hóa, đồng thời nó quyết định đến việc xác định thời điểm bán hàng, thời điểm xác nhận doanh thu bán hàng và tiết kiệm chi phí để tăng lợi nhuận thuần.
Hiện nay các doanh nghiệp thường áp dụng các phương thức bán hàng sau: + Phương thức bán buôn 8 Bán buôn là việc bán thành phẩm của doanh nghiệp cho các doanh nghiệp khác, cửa hàng, đại lý…với số lượng lớn để các đơn vị đó tiếp tục bán cho các tổ chức khác hay phục vụ cho việc khác nhằm đắp ứng nhu cầu kinh tế. Đặc điểm của nghiệp vụ bán buôn là hàng hóa chưa tới tay người tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện đầy đủ. Thành phẩm được bán theo lô hàng hoặc bán với số lượng lớn. (Theo tác giả Lê Minh Nhất (2015), đề cương bài giảng kế toán tài chính, Khoa Kế toán – Kiểm toán trường Đại học Lâm Nghiệp) Có 2 hình thức bán buôn: Bán buôn qua kho bao gồm: - Phương thức bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp.
Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến doanh nghiệp để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất thành phẩm giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì thành phẩm được xác định là bán hàng. - Phương pháp bán buôn theo hình thức chuyển hàng chờ chấp nhận: Căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng doanh nghiệp xuất thành phẩm tới kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó do bên mua quy định trong hợp đồng.