Đặt vấn đề Phần II: Nội dung nghiên cứu Gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh - Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Gas Phúc Tín. - Chƣơng 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Gas Phúc Tín. Phần III: Kết luận 4 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 1. Một số vấn đề tổng quan về công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1.
Các khái niệm liên quan đến công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Hàng hóa Hàng hóa là những vật phẩm các doanh nghiệp mua về để bán phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Hàng hóa trong doanh nghiệp đƣợc hình thành chủ yếu do mua ngoài. Ngoài ra, hàng hóa còn có thể đƣợc hình thành do nhận vốn góp liên doanh, liên kết, nhận viện trợ, biếu, tặng, thu hồi nợ…. (Theo thông tư 200/2014/TT-BTC - Điều 23: Nguyên tắc kế toán hàng tồn kho) Bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của DN thƣơng mại, là quá trình ngƣời bán giao quyền sở hữu hàng hóa cho ngƣời mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền đòi tiền ở ngƣời mua.
(Theo thông tư 200/2014/TT-BTC) Nhƣ vậy, thông qua nghiệp vụ bán hàng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đƣợc thực hiện, vốn của doanh nghiệp thƣơng mại đƣợc chuyển từ hình thái hiện vật (hàng hoá) sang hình thái giá trị (tiền tệ), doanh nghiệp thu hồi đƣợc vốn bỏ ra, bù đắp đƣợc chi phí và có nguồn tích luỹ để mở rộng kinh doanh. Xác định kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tƣ tài chính và hoạt động khác trong một thời kỳ nhất định. Biểu hiện của kết quả kinh doanh là số lãi (hoặc số lỗ) và kết quả kinh doanh của 5 doanh nghiệp đƣợc xác định theo công thức sau: (Theo thông tư 200/2014/TT-BTC – Điều 96: Xác định kết quả kinh doanh) Kết quả kinh doanh Kết quả hoạt Kết quả hoạt Kết quả hoạt (lợi nhuận trƣớc thuế = động sản xuất, + động tài + động khác TNDN hoặc lỗ) kinh doanh chính 1. Đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ của quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Bản chất của quá trình bán hàng Xét về bản chất kinh tế: quá trình bán hàng là quá trình luân chuyển sở hữu về hàng hóa và tiền tệ.
Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh này, ngƣời bán mất quyền sở hữu về hàng hóa và đƣợc quyền sở hữu về tiền tệ hay quyền đòi tiền của ngƣời mua. Ngƣời mua đƣợc quyền sở hữu về bán hàng, mất quyền sở hữu về tiền tệ hay có nghĩa vụ phải trả tiền cho ngƣời bán. Xét về hành vi: hoạt động bán hàng diễn ra sự trao đổi, thỏa thuận giữa ngƣời bán và ngƣời mua, ngƣời bán chấp nhận bán và xuất giao hàng hóa, ngƣời mua chấp nhận mua và trả tiền hay chấp nhận trả tiền. Xét về quá trình vận động của vốn: trong hoạt động bán hàng, vốn kinh doanh chuyển từ hình thái hiện vật (hàng hóa) sang hình thái tiền tệ.
Đặc điểm của quá trình bán hàng Về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản là lƣu chuyển hàng hóa (Lƣu chuyển hàng hóa là sự tổng hợp các hoạt động thuộc quá trình mua bán trao đổi và dự trữ hàng hóa) Về hàng hóa: Hàng hóa trong kinh doanh thƣơng mại gồm các loại vật tƣ, sản phẩm có hình thái vật chất và phi vật chất mà doanh nghiệp mua về với mục đích để bán. Về phƣơng thức lƣu chuyển hàng hóa: Hoạt động kinh doanh thƣơng mại có 2 hình thức lƣu chuyển chính là bán buôn và bán lẻ. 6 Về tổ chức kinh doanh: có thể theo nhiều mô hình khác nhau nhƣ tổ chức bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới, công ty xúc tiến thƣơng mại… Về sự vận động của hàng hóa: sự vận động của hàng hóa không giống nhau, tùy thuộc vào nguồn hàng và ngành hàng (hàng lƣu chuyển trong nƣớc, hàng xuất nhập khẩu,…) Do đó chi phí thu ua và thời gian lƣu chuyển hàng hóa cũng khác nhau giữa các loại hàng. Vai trò của quá trình bán hàng Đối với xã hội: Bán hàng là một nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình tái sản xuất cho xã hội.
Nếu bán đƣợc nhiều hàng hóa tức là hàng hóa đƣợc chấp nhận, bán đƣợc nhiều, do đó nhu cầu mới phát sinh cần có hàng hóa mới cho nên điều tất yếu là cần tái sản xuất cũng nhƣ mở rộng sản xuất. Đối với thị trƣờng hàng hóa: bán hàng thực hiện quá trình trao đổi giá trị. Ngƣời có giá trị sử dụng (ngƣời sản xuất) lấy đƣợc giá trị sử dụng hàng hóa và phải trả bằng giá trị. Đối với doanh nghiệp thƣơng mại: Với chức năng là trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng nên DN thƣơng mại có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hàng hóa cho ngƣời tiêu dùng.
Trong hoạt động kinh doanh của DN thƣơng mại, quá trình lƣu chuyển hàng hóa đƣợc diễn ra nhƣ sau: Mua vào – Dữ trữ - Bán ra, trong đó bán hàng hó là khâu cuối cùng nhƣng lại có tính chất quyết định đến khâu trƣớc đó. Bán hàng quyết định xem DN có nên tiếp tục mua vào hay dự dữ nữa hay không? Số lƣợng là bao nhiêu?. Vậy bán hàng là mục đích cuối cùng của DN thƣơng mại cần hƣớng tới và rất quan trọng, nó quyết định đến việc thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Do đó thực hiện tốt khâu bán hàng sẽ giúp doanh nghiệp thƣơng mại: - Thu hồi vốn nhanh, quay vòng tốt để tiếp tục hoạt động kinh doanh.
- Đẩy mạnh tốc độ chu chuyển vốn lƣu động quản lý vốn tốt giảm việc huy động vốn từ bên ngoài (lãi xuất cao). - Thực hiện tốt quá trình chu chuyển hàng hóa trong doanh nghiệp thƣơng mại, điều hòa lƣợng hàng hóa mua vào, dữ trữ bán ra hợp lý. 7 - Xác định đƣợc kết quả kinh doanh để hoạch định kế hoạch kinh doanh cho năm tiếp theo đƣợc tốt hơn. - Hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nƣớc cũng nhƣ thực hiện nghĩa vụ thanh toán với các bên liên quan nhƣ: ngân hàng, chủ nợ… Có thể thấy rằng nghiệp vụ bán hàng đóng vai trò quan trọng trong DN thƣơng mại nhất là trong cơ chế thị trƣờng hiện nay cạnh tranh rất khốc liệt.
Do đó đòi hỏi mỗi DN cần phải tìm ra đƣợc chỗ đứng cho riêng mình trên thƣơng trƣờng cũng nhƣ mỗi doanh nghiệp thƣơng mại cần phải tìm ra đƣợc biện pháp để thúc đẩy quá trình bán hàng để đứng vững và ngày càng phát triển hơn trong thị trƣờng này. Doanh nghiệp thƣơng mại cần quan tâm tới chất lƣợng hàng hóa, giá cả, các dịch vụ bán, chính sách thu hút khách hàng (quản cáo, tiếp thị, giảm giá,…) Nếu trong kinh doanh, quá trình bán hàng đƣợc thực hiện trôi chảy thì các quá trình khác cũng sẽ đƣợc thực hiện tốt do chúng có mối quan hệ ảnh hƣởng trực tiếp đến nhau. Vai trò của xác định kết quả kinh doanh Việc xác định kết quả kinh doanh là xác định phần chênh lệch giữa một bên là doanh thu thuần với một bên là toàn bộ chi phí đã bỏ ra. Số chênh lệch đó biểu hiện là “lãi” hoặc “lỗ”.
Xác định đúng kết quả kinh doanh là cơ sở để đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định của doanh nghiệp, các nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện đối với nhà nƣớc, lập các quỹ tạo điều kiện mở rộng sản xuất. Ngoài ra, việc xác định đúng kết quả kinh doanh còn là cơ sở để lập kế hoạch cho kỳ kinh doanh tiếp theo, đồng thời nó cũng là số liệu cung cấp thông tin cho các đối tƣợng quan tâm nhƣ các nhà đầu tƣ, các ngân hàng… Trong điều kiện hiện nay, khi mà các DN đang tiến hành kinh doanh trong điều kiện ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trƣờng, việc xác định kết quả kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lí, cung cấp các thông tin không những cho các nhà quản lí của DN để lựa chọn phƣơng án kinh doanh có hiệu quả 8 mà nó còn là căn cứ để các cơ quan quản lí tài chính, cơ quan thuế… thực hiện giám sát việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính… 1. Nội dung công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 1. Vai trò của công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD Kế toán đƣợc coi nhƣ là một công cụ hữu hiệu, phục vụ công tác quản lý nói chung và công tác quản lý hàng hóa, bán hàng và xác định kết quả bán hàng nói riêng.
Thông tin do kế toán cung cấp là cơ sở để các nhà quản lý nắm đƣợc tình hình quản lý hàng hóa trên hai mặt hiện vật và giá trị, tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng, chính sách giá cả hợp lý và đánh giá đúng đắn năng lực kinh doanh của DN thông qua kết quả bán hàng đạt đƣợc. Thông tin do kế toán cung cấp là căn cứ để đánh giá tính hiệu quả, phù hợp của các quyết định bán hàng đã đƣợc thực thi, từ đó phân tích và đƣa ra các biện pháp quản lý chiến lƣợc kinh doanh, bán hàng phù hợp với thị trƣờng ứng với khả năng của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD Các nhà quản lí DN luôn luôn cần các thông tin, số liệu chi tiết, cụ thể về hoạt động của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp thƣơng mại thì cần phải có số liệu thống kê về hoạt động bán hàng là đầu ra của mình. Từ những thông tin này có thể biết mức độ tiêu thụ, phát hiện kịp thời những sai sót trong quá trình quản lý, luân chuyển hàng hóa để từ đó có những biện pháp cụ thể thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển.
Do đó, kế toán nghiệp vụ bán hàng cung cấp các số liệu liên quan đến tình hình tiêu thụ hàng hóa có những đặc điểm cơ bản sau: - Ghi chép phản ánh kịp thời chính xác, đầy đủ tình hình bán hàng của DN trong kỳ.