CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TẠI DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1.1 Lý luận về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến kế toán bán hàng Khái niệm về bán hàng: “Là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt độngkinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hay quyền kiểm soát về hàng hóa từ người bán sang người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua.” (Giáo trình kế toán doanh nghiệp thương mại dịch vụ, Chủ biên TS. Nguyễn Tuấn Duy năm 2014, trang 77) Khái niệm về doanh thu: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu.” (Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, ban hành theo quyết định 149 ngày 31/12/2001 của Bộ Tài Chính) Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong quá trình bán hàng có thể phát sinh các trường hợp đặc biệt làm giảm trừ doanh thu. Chẳng hạn như các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán hay hàng bán bị trả lại… Giá vốn hàng bán:“Là giá trị thực tế xuất bán của hàng hóa bao gồm cả chi phí mua hàng phân bổ cho hàng hóa đã bán ra trong kỳ hoặc là giá cả giá thành thực tế của sản phẩm hoàn thành và đã được xác định là tiêu thụ và các khoản được tính vào giá vốn để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ.” (Giáo trình kế toán doanh nghiệp thương mại dịch vụ, Chủ biên TS. Nguyễn Tuấn Duy năm 2014, trang 83) Giá vốn hàng bán là một nhân tố cấu thành kết quả sản xuất kinh doanh.Đối với doanh nghiệp sản xuất thì trị giá vốn thành phẩm xuất kho để bán hoặc thành phẩm hoàn thành không nhập kho đưa đi bán ngay chính là giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm hoàn thành.
Đối với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn hàng xuất kho để bán bao gồm trị giá mua thực tế và chi phí mua thực tế phân bổ cho số hàng đã xuất kho bán.2 Lý thuyết về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại 1.1 Các phương thức bán hàng a. Phương thức bán buôn hàng hóa: Là phương thức bán hàng cho các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp sản xuất thực hiện bán hoặc gia công chế biến rồi bán ra. Trong bán buôn thì hàng hoá vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Bán buôn hàng hoá bao gồm: Phương thức bán buôn hàng hoá qua kho: Là phương thức bán buôn hàng hoá mà trong đó hàng bán phải được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp.
Trong phương thức này có hai hình thức: - Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: Theo hình thức này khách hàng cử người mang giấy ủy nhiệm đến kho của doanh nghiệp trực tiếp nhận hàng và áp tải hàng về. Sau khi giao nhận hàng hóa, đại diện bên mua ký nhận đã đủ hàng vào chứng từ bán hàng của bên bán đồng thời trả tiền ngay hoặc ký nhận nợ. - Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký hoặc theo đơn đặt hàng của người mua xuất kho gửi hàng cho người mua bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài. Chi phí vận chuyển do bên bán hoặc bên mua trả theo quy định trong hợp đồng.
Hàng gửi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đến khi bên mua nhận được hàng, chứng từ và chấp nhận thanh toán thì quyền sở hữu hàng hóa mới được chuyển giao từ người bán sang người mua. Phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng: Là phương thức bán buôn hàng hoá mà trong đó hàng hoá bán ra khi mua về từ tay nhà cung cấp không qua nhập kho của doanh nghiệp mà bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho khách hàng. Trong phương thức này có hai hình thức: - Bán buôn vận chuyển thằng theo hình thức giao hàng trực tiếp (Bán giao tay ba): Doanh nghiệp sau khi nhận hàng từ nhà cung cấp của mình thì giao bán trực tiếp cho khách hàng tại thời điểm do hai bên thoả thuận. Sau khi giao hàng thì đại diện bên mua ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hàng hoá được chuyển giao cho khách hàng, khi đó hàng hoá được xác định là tiêu thụ.
7 Luan van - Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Theo phương thức này doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng thì nhận hàng mua và dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài để vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thoả thuận. Hàng hoá vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận được tiền hoặc thông báo của bên mua chấp nhận thanh toán thì khi đó hàng được xác định là tiêu thụ. Phương thức bán lẻ hàng hóa: Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.
Theo phương thức này hàng hoá ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện. Bán lẻ thường với số lượng ít và giá ổn định. Trong phương thức bán lẻ có các hình thức: Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong đó việc thu tiền ở người mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Theo hình thức này mỗi quầy hàng có một nhân viên làm nhiệm vụ thu tiền của khách và viết hoá đơn, tích kê giao cho khách hàng để họ nhận hàng tại quầy do mậu dịch viên bán hàng giao.
Hết ca mậu dịch viên căn cứ vào hoá đơn, tích kê giao hàng và lượng hàng tồn để xác định lượng hàng bán, là cơ sở cho việc lập báo cáo kết quả bán hàng.Nhân viên thu tiền lập giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỷ. Hình thức này tạo điều kiện cho việc quản lý và phân bổ trách nhiệm từng cá nhân cụ thể, tuy nhiên lại gây cho khách hàng phiền hà về thời gian nên chủ yếu áp dụng bán các loại hàng có giá trị cao. Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày hoặc cuối ca bán thì mậu dịch viên phải kiểm kê hàng hoá tồn quầy, số lượng hàng hoá bán ra để lập báo cáo bán hàng đồng thời lập giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỷ.
Hình thức này phổ biến vì tiết kiệm được thời gian mua hàng của khách hàng đồng thời tiết kiệm lao động. Hình thức bán lẻ tự phục vụ: 8 Luan van Theo hình thức này khách hàng tự chọn những hàng hoá mà mình cần sau đó mang tới bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng, nhân viên thu tiền sẽ thu tiền và lập hoá đơn bán hàng. Phương thức bán hàng đại lý: Là phương thức bán mà trong đó các doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở nhận đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Sau khi bán được hàng cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp và được hưởng một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý.
Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của các doanh nghiệp, đến khi nào cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng mới được xác định là tiêu thụ. Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm. Là phương thức mà doanh nghiệp thương mại dành cho người mua ưu đãi được trả tiền hàng trong kỳ. Doanh nghiệp thương mại được hưởng thêm khoản chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương thức trả tiền ngay gọi là lãi trả góp.
Khi doanh nghiệp thương mại giao hàng cho người mua, hàng hoá được xác định là tiêu thụ. Tuy nhiên, khoản lãi trả góp chưa được ghi nhận toàn bộ mà chỉ được phân bổ dần vào doanh thu hoạt động tài chính vào nhiều kỳ sau giao dịch bán. Phương thức hàng đổi hàng. Là phương thức mà doanh nghiệp thương mại trao đổi một hàng lấy một hàng khác.
Đối với trường hợp hàng đổi hàng có giá trị tương đương thì coi như hoạt động trao đổi bình thường, trường hợp hàng đổi hàng có giá trị không tương đương, thì hàng đem đi trao đổi coi như là hàng bán ra còn hàng nhận về coi như là mua.2 Các phương thức thanh toán ♦ Phương thức thanh toán trực tiếp Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang nguời bán ngay khi quyền sở hữu hàng hoá được chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có thể bằng hàng hoá. ♦ Phương thức thanh toán chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hoá, do đó 9 Luan van hình thành khoản nợ phải thu của khách hàng. Nợi phải thu cần được hạch toán quản lý chi tiết theo từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng lần thanh toán.
Ở phương thức này sự vận động của hàng hoá và tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian.2Nội dung kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại 1.1 Kế toán bán hàng theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam: 1.1 Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”: VAS 01 được ban hành theo QĐ 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản , các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chínhcủa Doanh nghiệp. - Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Theo nguyên tắc này, khi bán hàng nếu khách hàng có nhận nợ thì doanh nghiệp vẫn phải ghi nhận doanh thu, chi phí liên quan trong quá trình bán.
- Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc.