CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận phương pháp dạy học phát triển năng lực 1. Dạy học phát triển năng lực Ta có thể hiểu “Dạy học là quá trình truyền đạt kiến thức nhằm chuyển giao các giá trị tinh thần, hiểu biết, giá trị văn hóa,.vào bên trong con người”. Năng lực là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa người với người, thể hiện hiệu quả của con người tác động lên một công việc nào đó.
“Năng lực là đặc điểm, khả năng, mức độ thành thạo, là tập hợp toàn bộ các kỹ năng, kiến thức, khả năng, hành vi của một cá nhân để có thể đáp ứng một công việc nhất định nào đó, đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để cá nhân có thể hoàn thành một việc nào đó một cách hiệu quả”. Vì thế ta có thể biết rằng DH PTNL là PP thiết kế chương trình DH, tổ chức và phối hợp giữa HĐ dạy và HĐ học dựa trên định hướng PTNL. PTNL có thể được thể hiện trong cả HĐ trí tuệ và HĐ rèn luyện năng lực GQVĐ. PPDH PTNL chủ yếu gắn liền với việc học tập kiến thức lý thuyết với thực hành, chú trọng phát triển năng lực hành động, phát huy tính sáng tạo, chủ động và tích cực của người học.
Đồng thời, người học có thêm năng lực làm việc nhóm tốt hơn, biết vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống. Để PTNL cho HS, người dạy chủ yếu không ở vị trí trung tâm mà phải là người tổ chức, kết hợp nhiều PPDH để tư vấn, hỗ trợ trẻ chủ động chiếm lĩnh tri thức; chú trọng phát triển khả năng GQVĐ của HS, từ đó người học có nhiều cơ hội được bộc lộ ý kiến, trình bày sự phản biện. Bài học sẽ được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau, giúp HS hiểu bài sâu hơn. Với mục tiêu tập trung hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực HS thông qua việc hình thành kiến thức, kỹ năng; mục tiêu dạy học được mô tả chi tiết và có thể đo lượng và đánh giá được.
Dạy trẻ cách học để biết cách làm việc và GQVĐ. Nội dung của PPDH PTNL được lựa chọn nhằm đạt được kết quả 4 đầu ra đã quy định những nội dung chính. PP này chú trọng các kỹ năng thực hành, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Nội dung chương trình không quá chi tiết, có tính mở nên tạo điều kiện để người dạy dễ cập nhật tri thức mới, giúp HS có thể tự do sáng tạo hơn.
Tiêu chí đánh giá không giống với DH theo định hướng nội dung trang bị kiến thức trước đây. Trong giờ học, người đánh giá không chỉ là GV mà HS cũng có quyền đánh giá lẫn nhau. Từ đó, người đánh giá và người được đánh giá đều ghi nhớ kiến thức một cách tự nhiên mà lại sâu sắc hơn việc thụ động lắng nghe GV đánh giá. Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả “đầu ra” chú trọng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống hàng ngày.
Hiện nay, DH PTNL được chủ trọng, đầu tư và phát triển bởi 5 lợi ích nó mang lại. Trước hết là tính linh hoạt, thể hiện ở việc HS có thể tự do bộc lộ khả năng làm chủ thông qua hệ thống kế hoạch học tập và bài đánh giá thường xuyên, cho phép HS được tham gia vào một môn học ở lớp cao hơn nếu có đủ năng lực. Tất cả phụ thuộc vào cá nhân người học. Không chỉ vậy, nhịp độ học tập của HS không bị gò ép, giới hạn trong một lịch trình có sẵn.
Trọng tâm của DH PTNL là kết quả cuối cùng về năng lực. Ngay khi HS thành thạo năng lực ở một cấp độ, HS có thể hoàn thành các đánh giá, được chứng nhận và bắt đầu chuyển sang các năng lực cao hơn. HS có thể học với nhịp độ chậm hoặc nhanh theo mong muốn của bản thân. Bên cạnh đó, lợi ích thứ ba mà DH PTNL mang lại đó là tăng sự tham gia của HS.
Các em được quyền kiểm soát quá trình học tập của mình (thời gian, địa điểm, PP học) nên việc học đối với trẻ sẽ trở thành trải nghiệm mang tính cá nhân hóa, đa dạng hóa phong cách. Chương trình DH PTNL còn có thể tiết kiệm ngân sách dành cho giáo dục. Trước đây, các trường học phải đầu tư chi phí cố định, hàng năm cho việc dạy và học. Đối với một số chương trình, tài liệu môn học được cung cấp thông 5 qua các phần mềm, hoặc tương tác trực tuyến, đó cũng là cách để giảm chi phí dành cho các nguồn tài liệu học tập.
Đặc biệt, DH PTNL còn mang lại một lợi ích không hề nhỏ, đó là hỗ trợ HS hình thành kỹ năng và PTNL trong cuộc sống thường ngày. Chương trình học được thiết kế hướng đến xác định và đo lường được “năng lực” đầu ra của HS thông qua mức độ làm chủ kiến thức, kỹ năng và thái độ của HS trong quá trình học tập, bồi dưỡng các năng lực cần thiết cho một nghề nghiệp cụ thể trong tương lai cho mỗi HS. Lưu ý DH PTNL, để triển khai một cách hiệu việc quả DH PTNL, người GV cần phải: + Xác định rõ ràng năng lực vốn có của HS và năng lực cần hình thành cho HS từ đó rút ra đánh giá chính xác. Năng lực của HS cần được đặt làm mục tiêu học tập cho các em.
+ Chú trọng đánh giá năng lực của HS hơn là thời gian học. + Khai thác các thế mạnh của công nghệ để phục vụ cho việc dạy và học. + Thay đổi vai trò của GV: GV làm việc với HS, hướng dẫn các em học tập, trả lời các câu hỏi, thảo luận và giúp HS tổng hợp và áp dụng kiến thức vào phần luyện tập. + Công bằng trong DH: mỗi cá nhân đều được trao cơ hội thành công như nhau, vì vậy GV cần hỗ trợ học tập dựa trên điểm mạnh và điểm yếu của từng em.
Dạy học phát triển năng lực trong môn Toán học Hiện nay, môn Toán trong chương trình tiểu học được thay đổi theo định hướng PTNL để HS được phát triển hơn về kĩ năng và tư duy. Điều đó được thể hiện cụ thể qua các năng lực toán học như: năng lực tư duy, lập luận, năng lực mô hình hóa, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp Toán học, năng lực sử dụng thành thạo dụng cụ,… Đại lượng lớp 3 bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” tập trung nhấn mạnh một cách rõ nét vào ba năng lực: năng lực tư duy, 6 năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sử dụng thành thạo dụng cụ phương tiện học toán. Trước hết, bài toán đại lượng lớp 3 bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” chiếm nhiều ưu thế trong quá trình phát triển năng lực tư duy cho HS. Các em được tham gia giải quyết bài tập cần phối hợp nhuần nhuyễn nhiều kiến thức khác nhau (thực hiện việc chuyển đổi các số đo đại lượng, tính toán được các số đo đại lượng,.) và nhiều kĩ năng khác nhau (Sử dụng được một số dụng cụ thông dụng (một số loại cân thông dụng, thước thẳng có chia vạch đến mi-li- mét, nhiệt kế,.) để thực hành cân, đo, đong, đếm.
Năng lực giải quyết vấn đề là thành viên thứ hai trong định hướng PTNL của Đại lượng lớp 3 bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống”. Năng lực này được thể hiện qua việc HS trình bày được câu trả lời cho các câu hỏi trong bài, Ví dụ: “Túi nào nặng nhất trong ba túi A,B,C như hình dưới đây”, bài 35, trang 94, SGK tập 1) Không chỉ vậy, năng lực sử dụng thành thạo dụng cụ phương tiện học toán cũng không kém phần quan trọng trong mạch kiến thức của phần Đại lượng ở lớp 3 bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống”. Qua các tiết học, HS thành thạo trong việc sử dụng được một số dụng cụ thông dụng (một số loại cân thông dụng, thước thẳng có chia vạch đến mi-li-mét, nhiệt kế,.) để thực hành cân, đo, đong, đếm. Đọc được giờ chính xác đến 5 phút và từng phút trên đồng hồ.
PPDH Đại lượng lớp 3 bộ “Kết nối tri thức với cuộc sống” theo định hướng PTNL được triển khai dựa theo quá trình nhận thức của các em HS, đặt trẻ ở vị trí trung tâm, đề cao nhu cầu và năng lực nhận thức của từng HS. GV 7 chú trọng tổ chức dạy học theo hướng kiến tạo: trong tiết học đó, cả lớp ai cũng được tham gia vào quá trình khám phá, phát hiện từ đó tư duy để giải quyết các vấn đề mình phát hiện ra hoặc GV đặt ra từ trước. DH PTNL trong môn Toán học cũng đồng nghĩa với việc GV bắt buộc phải nắm được cách sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định. Dù cuộc sống hiện đại, bên cạnh việc tiếp thu và khám phá, áp dụng các thiết bị dạy học tân tiến, GV vẫn không được phép xem nhẹ các phương tiện DH truyền thống mà cần tận dụng những ưu điểm và kết hợp với thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng DH một cách tối ưu.
Cơ sở tâm lí Trẻ em lớp 3 thường vào khoảng 8 - 9 tuổi và được xem như giai đoạn giáo dục quan trọng. Trẻ trong độ tuổi này thường có khả năng tiếp thu kiến thức bài học rất nhanh. Các kiến thức, kỹ năng xã hội cũng dần hoàn thiện, có thể kể đến như sau: Tri giác phát triển nhanh và dần hoàn thiện. Trí nhớ và khả năng ghi nhớ có sự tiến bộ rõ rệt.
Tư duy phát triển, trí tưởng tượng cũng trở nên phong phú hơn. Tư duy trừu tượng và khả năng khái quát vấn đề dần hoàn thiện. Khả năng ngôn ngữ phát triển hơn hẳn so với giai đoạn trước. Trí tuệ ở độ tuổi này, trẻ có khả năng ghi nhớ và thuộc lòng các thông tin, dù có thể chưa hiểu sâu về chúng.
Trẻ bước vào giai đoạn đọc để học, chứ không còn là học để biết đọc. Cùng với sự phát triển tâm lý trẻ 9 tuổi thì tinh thần quyết tâm để hoàn thành nhiệm vụ ở trẻ cũng phát triển rất cao. Bên cạnh đó, trẻ có thể giữ được mạch tư duy và tiếp tục suy nghĩ ngay cả khi bị gián đoạn. Trẻ còn biết cách sử dụng từ điển.
Đặc biệt, trẻ bắt đầu hứng thú với kỹ năng lãnh đạo và phát triển mạnh tư duy phản biện. Trẻ cũng ý thức rõ ràng về những cái đúng và sai, bên cạnh những cái tốt và những cái xấu. Khả năng tự lập, trẻ 9 tuổi đã có khả năng lập kế hoạch và muốn được độc lập hơn.