lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương chính sau: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân sự tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ở Việt Nam nói chung và tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nói riêng. 5 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm của kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất 1. Khái niệm kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất * Khái niệm kê biên tài sản Dưới góc độ ngôn ngữ, Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Kê biên nghĩa là kê ra (danh mục tài sản có liên quan đến hành vi tội phạm) để chờ xử lý theo pháp luật.”1 Như vậy, theo định nghĩa này, kê biên được hiểu là việc ghi ra từng tài sản, bao gồm tên, loại tài sản mà có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật để chờ xử lý theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa chủ sở hữu tài sản bị kê biên phải là người có hành vi vi phạm pháp luật, bởi nếu một người không có hành vi phạm tội thì sẽ không bị kê biên tài sản. Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển các thuật ngữ pháp lý, “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”2.
Theo định nghĩa này, kê biên cũng là việc ghi lại từng tài sản, tạm thời cấm vận chuyển, trao đổi, định đoạt tài sản của người có hành vi vi phạm pháp luật để phục vụ cho công tác xét xử và thi hành án. Hiện nay, thuật ngữ kê biên tài sản đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta như Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật thi hành án dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Đất đai,… Tuy nhiên, chưa có văn bản nào quy định cụ thể khái niệm về kê biên tài sản sản. Mà kê biên tài sản chỉ được liệt kê là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự (THADS) do Chấp hành viên (CHV) áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền nào đó theo quyết định, bản án của Tòa án nhưng hết thời gian tự nguyện thi hành theo quy định của Luật THADS mà không tự nguyện thi hành án thì CHV tiến hành trình tự, thủ tục để kê biên tài sản. Từ cách hiểu này, trong một số tài liệu có đưa ra khái niệm về kê biên tài 1 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.
485 2 Từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999 6 sản, ví dụ: Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa ra khái niệm về kê biên tài sản như sau: “Kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế thi hành án do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành”. Tuy nhiên, yếu tố “không tự nguyện thi hành án” không đồng nghĩa với việc người phải thi hành án vi phạm pháp luật thi hành án, bởi vì nhiều trường hợp người phải thi hành án rất muốn bán tài sản hoặc dùng tài sản để trả nợ nhưng không thể vì yếu tố khách quan. Do đó, cần phải có cách hiểu kê biên tài sản một cách khái quát hơn nhằm đảm bảo được đúng bản chất lý luận và thực tiễn sử dụng thuật ngữ này; theo đó, tác giả hiểu về kê biên tài sản như sau: “Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản đối với các cá nhân, tổ chức xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác”. Trong hoạt động THADS, kê biên tài sản được hiểu là một biện pháp cưỡng chế để đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ trả tiền được quy định trong bản án, quyết định của Tòa án.
Việc cưỡng chế chỉ đặt ra khi người có nghĩa vụ thi hành án có điều kiện thi hành án và hết thời gian tự nguyện thi hành án thì CHV mới áp dụng biện pháp kê biên tài sản, một trong những biện pháp cưỡng chế để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình. * Khái niệm kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt nói chung và trong thi hành án dân sự nói riêng. Điều này xuất phát từ chế độ sở hữu đất đai hiện nay được quy định tại Hiến pháp 2013, Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Như vậy, với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước mới có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai.
Tuy nhiên, Nhà nước không phải là đối tượng trực tiếp sử dụng đất đai, mà Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Các cá nhân này có quyền sử dụng đất, khai thác các thuộc tính của đất đai, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản một 7 cách hợp pháp phục vụ cho mục đích của mình và quyền chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Theo Điều 105 BLDS 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Như vậy, có thể hiểu quyền sử dụng đất là quyền tài sản và là một loại tài sản theo quy định của BLDS.
Với tư cách là một loại tài sản, QSDĐ cũng sẽ là đối tượng của biện pháp kê biên tài sản trong THADS. Khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận đối với tài sản gắn liền với đất như sau: “ ài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao g m nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng tr ng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Như vậy, theo quy định của pháp luật, tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định tài sản gắn liền với đất bao gồm: Nhà ở, công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà ở; Nhà ở riêng lẻ theo quy định của Luật Nhà ở; Công trình xây dựng khác; Cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng hoặc vật khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể hiểu tài sản gắn liền với đất là toàn bộ bất động sản được xây dựng, hình thành trên đất, không thể tách rời với đất. Kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự quy định tại Điều 71 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và là một trong những biện pháp cưỡng chế phức tạp nhất và gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn tổ chức thi hành của chấp hành viên. Hiện nay, pháp luật chưa có khái niệm cụ thể về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà chỉ quy định về điều kiện hay nguyên tắc khi tiến hành biện pháp kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các Điều 111, Điều 95, Điều 94 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). 8 Tuy nhiên, cần phải phân biệt được kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong THADS của Cơ quan thi hành án dân sự với việc kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất của Cơ quan điều tra và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án như kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất đang tranh chấp nếu trong quá trình giải quyết tranh chấp có hành vi tẩu tán hay hủy hoại tài sản.
Kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất của Cơ quan điều tra và Tòa án nhằm mục đích ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị cáo, đương sự để trốn tránh nghĩa vụ về tài sản đối với Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Còn biện pháp kê biên QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trong THADS là biện pháp cưỡng chế nhằm buộc người có nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp người đó có điều kiện nhưng không tự nguyện thi hành án trong thời gian quy định. Từ những phân tích, quy định trên, có thể hiểu: Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là một biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự do Chấp hành viên thực hiện bằng quyền lực nhà nước để kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định của òa án, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án.