Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN, BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Kê biên tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự 1. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự 1. Khái niệm về thi hành án dân sự Thi hành án dân sự là hoạt động của hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự, có chức năng tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, nhằm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các tổ chức và người dân.
Theo quy định của luật thi hành án dân sự, thì các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bao gồm: “- Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; - Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; - Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; - Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; - Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; - Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; - Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản” [32, tr. Đặc điểm của thi hành án dân sự Điều 106 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [27, tr. Các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của Toà án phải được đảm bảo thi hành theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. 7 n Theo nguyên tắc Hiến định nêu trên thì hoạt động thi hành án dân sự là nhằm đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, việc xác định bản chất của thi hành án dân sự vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn. Dựa trên những luận cứ khác nhau, có quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp; hoạt động hành chính hay hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp. Xuất phát từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở nước ta, nhiều ý kiến đồng tình với quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù, vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư pháp. Điều này thể hiện ở một số điểm sau đây: Thi hành án dân sự và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau.
Đối với các bản án hình sự hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như kê biên, thu giữ, phong tỏa tài sản. thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự đã cố tình tẩu tán tài sản, dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành được. Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, cụ thể, rõ ràng, được dư luận đồng tình, ủng hộ thì đến giai đoạn thi hành án việc thi hành sẽ được dễ dàng, nhanh chóng. Trái lại, nếu bản án, quyết định của Tòa án được tuyên không công bằng, toàn diện, khách quan, thiếu tính khả thi sẽ gây khó khăn, cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước.
Nếu việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Quá trình thi hành án dân sự là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về tài sản, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó các trình tự, thủ tục về quá trình thi hành án dân sự cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền và lợi ích của con người, của công dân. Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế bắt buộc của cơ quan Thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo Bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành. Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản Để áp dụng được biện pháp kê biên tài sản, cần phải căn cứ các quy định của Luật Thi hành án dân sự, gồm: - Bản án, quyết định của Tòa án: Bản án, quyết định của Tòa án là một trong những căn cứ bắt buộc, không thể thiếu để thực hiện biện pháp kê biên tài sản.
Điều này được quy định tại khoản 1, điều 70 của Luật Thi hành án dân sự về căn cứ cưỡng chế: “bản án, quyết định”. Chấp hành viên phải dựa trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản. - Quyết định thi hành án: Quyết định thi hành án là văn bản do Thủ trưởng cơ quan Thi hành án có thẩm quyền ban hành theo một trình tự, thủ tục nhất định để thi hành một hoặc nhiều khoản của bản án, quyết định dân sự theo thủ tục thi hành án dân sự, làm căn cứ cho việc tổ chức cưỡng chế thi hành án, bảo đảm lợi ích nhà nước, tổ chức và công dân. - Người phải thi hành án có tài sản, đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành, sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phù hợp, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. 9 n Sau khi ra quyết định kê biên, Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục thông báo cho các đương sự và những cơ quan, tổ chức có liên quan biết được nội dung cưỡng chế. Thông báo cưỡng chế là thủ tục bắt buộc mà cơ quan thi hành án gửi, tống đạt cho các đương sự và những cơ quan, tổ chức hữu quan để các đương sự và cơ quan đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Theo quy định thì việc thông báo được thực hiện dưới nhiều hình thức như: thông báo trực tiếp, niêm yết công khai, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, ngoài ra còn có một số hình thức thông báo khác như: thư tín, điện tín, fax, email hoặc các hình thức khác.
Người đảm nhận việc thông báo quyết định kê biên là Chấp hành viên, thư ký thi hành án giao văn bản cần thông báo cho người được thông báo, do bưu tá, người được cơ quan thi hành án ủy quyền, tổ chức tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm, buôn, phum, sóc, Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, Giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người được thông báo có địa chỉ, cư trú, công tác. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản phải căn cứ vào bản án, quyết định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức Chấp hành viên. Căn cứ áp dụng biện pháp kê biên tài sản Khi tổ chức thi hành một bản án liên quan đến kê biên tài sản của người phải thi hành án, thì căn cứ để tổ chức cưỡng chế thi hành án phải theo quy định chung, trong đó hồ sơ thi hành án phải có: Bản án quyết định, đơn yêu cầu thi hành án, Quyết định thi hành án, các văn bản tài liệu xác minh quá trình tổ chức thi hành án và cuối cùng là Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục kê biên tài sản 1. Ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án Thứ nhất, thẩm quyền ra quyết định kê biên tài sản Theo quy định tại khoản 5 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự, thì thẩm quyền này thuộc về Chấp hành viên được phân công tổ chức vụ việc. 10 n Thứ hai, về thời điểm ra quyết định kê biên tài sản Theo quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án dân sự thì hết thời gian tự nguyện thi hành án (hoặc chưa hết thời hạn tự nguyện nhưng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Đều 45 Luật Thi hành án dân sự) và xác định người phải thi hành án có tài sản thuộc diện được kê biên để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
Việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên phải chứng minh người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Thứ ba, điều kiện để ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản Người phải thi hành án được xác định là có điều kiện thi hành án khi người đó có tài sản để thi hành án.