Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH TRẬT TỰ 1. Khái niệm về pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 1. Khái niệm kinh doanh có điều kiện và kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Khái niệm hoạt động kinh doanh - Từ nền kinh tế hành chính, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế có những sự thay đổi về chất, do đó, tính chất của các hoạt động kinh doanh cũng thay đổi theo.
Điều đó đòi hỏi phải xác định lại khái niệm kinh doanh cho phù hợp với các thuộc tính vốn có của nó. Trong nền kinh tế thị trường kinh doanh là một dạng hoạt động của con người thực hiện một số công đoạn hoặc toàn bộ quá trình từ mua vào, chế biến, chế tạo, bán ra nhằm sinh lời hay còn gọi kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận. - Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta xác định: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [15, tr.
Theo đó, Hiến pháp, pháp luật đã quy định rõ về “kinh doanh”. Khái niệm kinh doanh theo quy định của các văn bản pháp luật đó thì “kinh doanh” là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất 9 cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” [33]. - Như vậy, khác với các hành vi dân sự thuần tuý khác (cũng trao đổi, cũng cung ứng dịch vụ), mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận. Đối với các doanh nghiệp, lợi nhuận được tạo ra khi số tiền thu được trong kinh doanh (doanh thu) lớn hơn số tiền phải chi phí (chi phí kinh doanh), tiền bán ra trừ tiền chi phí bằng lợi nhuận.
Bất cứ hoạt động nào, cho dù về mặt hình thức giống kinh doanh nhưng mục tiêu của hoạt động đó không phải là tạo ra lợi nhuận đều không phải là kinh doanh. - Hoạt động kinh doanh được nhận biết thông qua các dấu hiệu: a) Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, nghĩa là chúng được tiến hành một cách chuyên nghiệp, thường xuyên, liên tục và hoạt động này mang lại nguồn thu nhập chính cho người thực hiện chúng; b) Hoạt động phải được thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh mình để tiến hành hoạt động kinh doanh. Họ tự quyết định mọi vấn đề có liên quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình.
c) Hoạt động được các chủ thể tiến hành với mục đích kiếm lời thường xuyên. d) Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì để thực hiện hoạt động kinh doanh, các chủ thể phải tiến hành đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cơ quan đăng kí kinh doanh. Hiện nay, đang áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020 (thay thế Luật doanh nghiệp năm 2014 trước kia) và luật thương mại năm 2005 để điều chỉnh các nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh. Điều kiện kinh doanh trước hết phải được hiểu là một trong những công cụ quản lý được Nhà nước sử dụng để thiết lập và duy trì trật tự trong hoạt động kinh doanh.
Nó đặt ra những yêu cầu mà chủ thể kinh doanh phải đáp ứng như yêu cầu về nguồn lực con người, tài chính, cơ sở vật chất, quy trình 10 quản lý, quy trình kỹ thuật, địa điểm kinh doanh v. Do vậy, điều kiện kinh doanh không chỉ là những yêu cầu về gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp mà còn là những yêu cầu mà doanh nghiệp phải duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. - Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà cá nhân, tổ chức kinh tế khi tham gia đầu tư kinh doanh phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và bảo đảm duy trì các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể như quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Khái niệm kinh doanh có điều kiện về An ninh trật tự Để nghiên cứu kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, trước hết cần đi sâu tìm hiểu khái niệm an ninh quốc gia, khái niệm trật tự an toàn xã hội.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) Đảng ta xác định: 3 mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ, chế độ Xã hội chủ nghĩa giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta” [15, tr. Quản lý nhà nước nhằm bảo vệ an ninh quốc gia là quản lý các lĩnh vực an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng, quản lý dân tộc và tôn giáo, quản lý xuất nhập cảnh, quản lý an ninh biên giới, bảo vệ lãnh tụ và bộ máy đầu não của Đảng và Nhà nước, quản lý công tác tình báo. Bảo vệ an ninh chính trị bao gồm bảo vệ chế độ chính trị, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ sự hoạt động an toàn và bình thường của hệ thống chính quyền nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị, xã hội, bảo vệ nhân dân và cộng đồng dân cư trên lãnh thổ Việt Nam và ở nước ngoài. 11 Bảo vệ an ninh kinh tế là bảo vệ quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối kế hoạch phát triển kinh tế đi đúng định hướng XHCN, bảo vệ sự hoạt động an toàn của mọi thành phần kinh tế theo đúng pháp luật, bảo vệ đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, tri thức, khoa học kỹ thuật, các nhà kinh doanh, không để nước ngoài dùng kinh tế lôi kéo mua chuộc gây tổn thất cho ta hoặc làm chệch hướng nền kinh tế XHCN.
Bảo vệ an ninh văn hóa – tư tưởng là bảo vệ sự trong sáng của hệ tư tưởng mà Đảng ta lựa chọn: bảo đảm cho xã hội yên ổn, lành mạnh, những giá trị đạo đức truyền thống được phát huy và bảo vệ, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, ngăn chặn tác động của các trào lưu văn hóa phản động, độc hại xâm nhập vào nước ta. Bảo vệ an ninh chính trị thông qua quản lý dân tộc và tôn giáo nhằm tăng cường đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân. - Các khái niệm trên về trật tự an toàn xã hội về cơ bản không có gì khác nhau nhưng khái niệm trật tự an toàn xã hội sau đây có tính toàn diện và xác thực ở Việt Nam. “Trật tự an toàn xã hội là trạng thái ổn định, có trật tự, có kỷ cương, được xác lập trên cơ sở các qui phạm pháp luật, các giá trị, các chuẩn mực đạo đức xã hội được tôn trọng và thừa nhận, bảo đảm mọi người dân có cuộc sống bình yên, quyền và lợi ích hợp pháp không bị xâm hại; Mọi hoạt động của Nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật.
- An ninh trật tự là một trong những cách ngắn gọn và viết tắt của cụm từ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Là biểu hiện nhằm duy trì trật tự và bảo vệ đất nước khỏi những mối đe dọa, đồng thời đem lại sự bình yên và giải quyết những bất đồng mâu thuẫn trong xã hội hiện nay. 12 - An ninh trật tự vừa là cơ sở, vừa là nền tảng để phát triển một đất nước giàu mạnh. Do vậy mỗi chính quyền nhà nước cần có những thay đổi, bổ sung phát triển an ninh trật tự một cách bền vững và tốt đẹp nhất.
Bảo vệ an ninh trật tự và an ninh xã hội là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó bao gồm các nội dung cơ bản như sau: - Bảo vệ an ninh gắn liền với đấu tranh phòng, chống tội phạm; + Giữ gìn và đảm bảo an ninh trật tự nơi công cộng; + Đảm bảo an toàn xã hội, các vấn đề về an ninh giao thông; + Loại bỏ và bài trừ các tệ nạn xã hội ảnh hưởng vi phạm đến cộng đồng; + Thực hiện các chính sách và chế độ bảo vệ môi trường. - Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia Tóm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, có thể rút ra khái niệm về kinh doanh có điều kiện về ANTT: “hoạt động kinh doanh những ngành nghề mà việc thực hiện hoạt động kinh doanh trong ngành nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do an ninh, quốc phòng của quốc gia cũng như trật tự, kỷ cương và an toàn xã hội”. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự 1. Khái niệm pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang không ngừng hội nhập thì việc đảm bảo một môi trường kinh doanh thuận lợi là một yếu tố vô cùng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong nước cũng như thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp là yếu tố rất quan trọng đối với một môi trường kinh doanh thuận lợi, một nền kinh tế phát triển. Quyền tự do kinh doanh tại Việt 13 Nam đã có nhiều bước tiến mạnh mẽ và được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Có thể nói hệ thống pháp luật kinh tế đã được xây dựng và hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý vững chắc cho sự phát triển các quan hệ kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.