Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật 1. Khái niệm kết hôn trái pháp luật Việc kết hôn giữa nam và nữ được coi là hợp pháp khi thỏa mãn điều kiện kết hôn. Khi kết hôn các bên nam, nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm vào các các trường hợp cấm kết hôn và đủ điều kiện kết hôn thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp.
Bởi lẽ, chỉ khi hai bên nam, nữ có sự tuân thủ các điều kiện kết hôn thì mới đảm bảo cho hôn nhân được tồn tại và được công nhận một cách hợp pháp và phù hợp với bản chất của nó. Và chỉ khi có những cuộc hôn nhân phù hợp với bản chất thì nó mới có giá trị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng theo đúng nghĩa của nó. Với các trường hợp, nếu các bên nam nữ quyết định kết hôn mà không tuân thủ các điều kiện kết hôn thì được coi là trái pháp luật. Sự tồn tại trái pháp luật này không phù hợp với bản chất của quan hệ hôn nhân, thì khi xảy ra tranh chấp sẽ không được pháp luật bảo vệ.
Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã giải thích thuật ngữ kết hôn trái pháp luật như sau: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này”. Như vậy, chỉ coi là kết hôn trái pháp luật khi manng hai dấu hiệu cần và đủ, đó là vi phạm một trong các điều kiện kết hôn tại Điều 8 và các Điểm a,b,c và d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và có đăng ký kết hôn. Kết hôn trái pháp luật có thể hiểu là việc nam, nữ đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được thừa nhận và ghi vào sổ hộ tịch về việc kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên, tại thời điểm tiến hành đăng ký kết hôn, một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ lại vi phạm các điều kiện kết hôn đã được liệt kê tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Toà án nhân dân có thẩm quyền có quyền huỷ bỏ đối với hôn nhân trái pháp luật, tức là hôn nhân vi phạm các quy định về các điều kiện kết hôn, những trường hợp cấm kết hôn.
Dấu hiệu có đăng ký kết hôn để phân biệt với trường hợp hai bên nam nữ sống chung như vợ chồng dù có tuân thủ các điều kiện kết hôn hay không nhưng không đăng ký kết hôn thì cũng không coi là kết hôn trái pháp luật. Bởi lẽ, về mặt pháp lý trong quan hệ này các chủ thể chưa thực hiện hành vi kết hôn thì không thể coi sự vi phạm đó là kết hôn trái pháp luật được. Vì vậy, Nhà nước dùng biện pháp cưỡng chế đối với những vi phạm là 7 buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống trong quan hệ vợ chồng. Điều đó thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trước những hành vi vi phạm trong việc kết hôn và cũng khẳng định rằng trong việc kết hôn thì lợi ích của những người kết hôn phải phù hợp với lợi ích gia đình và xã hội.
Quyền kết hôn là quyền của mỗi con người, nhưng khi kết hôn thì họ phải tuân thủ các điều kiện mà pháp luật quy định. Nếu vi phạm thì việc kết hôn đó là trái pháp luật. Việc kết hôn trái pháp luật gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định của xã hội, tới sự quản lý của Nhà nước. Từ góc độ pháp lý, kết hôn trái pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi chính đáng của công dân, ảnh hưởng tới nhân quyền, tới sự nghiêm minh của pháp luật.
Về mặt xã hội, một gia đình cần được xây dựng từ những “viên gạch” của sự tự nguyện, của tình yêu thương của hai bên nam nữ, của sự bảo đảm về thể lực và trí lực, của các giá trị đạo đức xã hội, phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Bên cạnh đó, để tránh gây nhầm lẫn, cần phân biệt thuật ngữ “kết hôn trái pháp luật” với thuật ngữ “sống với nhau như vợ chồng trái pháp luật”. Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Điểm khác biệt cơ bản nhất giữa hai thuật ngữ này là việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn.
Nếu kết hôn trái pháp luật đặt ra vấn đề hai bên nam, nữ thực hiện hành vi đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì chung sống với nhau như vợ chồng lại không đặt ra vấn đề này. Trường hợp hai bên nam, nữ không đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn hoặc trường hợp kết hôn không đúng thẩm quyền là vi phạm quy định kết hôn của pháp luật về kết hôn nhưng không được xác định là kết hôn trái pháp luật. Việc phân biệt này có ý nghĩa trong việc lựa chọn hình thức xử lý trong từng trường hợp vi phạm 4. Xét về tính chất, đó cũng là sự xử lý linh hoạt trong đối với vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là vấn đề kết hôn.
Khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật Kết hôn trái pháp luật không những gây ảnh hưởng không tích cực tới quyền, lợi ích hợp pháp, không chỉ là ảnh hưởng tới tương lai của nam, nữ kết hôn mà còn ảnh hưởng đến các quan hệ hôn nhân hợp pháp được Nhà nước bảo vệ. Bởi vậy, các biện pháp chế tài áp dụng cho việc kết hôn trái pháp luật được các nhà làm luật quy định như một tất yếu để hạn chế, ngăn ngừa và giải quyết thực trạng trên. Hủy việc kết hôn trái pháp luật đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là một trong những biện pháp trừng phạt, thể hiện sự không thừa nhận giá trị pháp lý của quan hệ hôn nhân. Được 4 Bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình Đại học Luật Hà Nội (2015), Hướng dẫn học tập – tìm hiểu Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.
8 quy định tại Khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Để đảm bảo các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình được thực thi cũng như duy trì và phát triển chế độ hôn nhân tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc và bền vững, việc đặt ra các chế tài để áp dụng trong các trường hợp có vi phạm các quy định về quan hệ hôn nhân là rất cần thiết. Xuất phát từ hệ quả của việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu ngăn chặn, xử lý và hạn chế kết hôn trái pháp luật là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Pháp luật quy định các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật gồm: huỷ việc kết hôn trái pháp luật hoặc xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự.
Tuỳ từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, chủ thể thực hiện mà áp dụng các biện pháp khác nhau. Kết hôn trái pháp luật là một trong những vấn đề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển chung của cộng đồng và tác động xấu đến toàn xã hội. Do đó, việc đặt ra chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật là hoàn toàn phù hợp và có ý nghĩa trong việc xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình nói chung. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình.
Đây là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với việc thực hiện không đúng các quy định pháp luật. Chế tài này thể hiện sự không thừa nhận tính chất pháp lý của quan hệ mới phát sinh. Như vậy, các chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đối với hành vi vi phạm của mình. Hủy việc kết hôn trái pháp luật mang tính chất linh hoạt và mềm dẻo.
Sự linh hoạt, mềm dẻo thể hiện trong nguyên tắc xử lý của Tòa án. Không phải tất cả các trường hợp kết hôn trái pháp luật Tòa án đều hủy, mà khi giải quyết Tòa án phải căn cứ vào hoàn cảnh, mức độ vi phạm, hậu quả để quyết định hủy hay không hủy quan hệ đó. Hiện nay, khái niệm hủy việc kết hôn trái pháp luật đã được các chuyên gia pháp lý luận giải: Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp của Nhà nước nhằm làm cho việc kết hôn trái pháp luật không còn tồn tại. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một thuật ngữ pháp lý dung để chỉ một biện pháp chế tài được áp dụng đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật5.
Như vậy, hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình, áp dụng cho các chủ thể đăng ký kết hôn nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được pháp luật quy định, thể hiện thái độ không thừa nhận của Nhà nước đối với quan hệ đó, các bên trong quan hệ không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Tuy nhiên trong phạm vi bài, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu huỷ việc kết hôn trái pháp luật theo 5 Bùi Thị Mừng (2015), Chế định kết hôn trong Luật hôn nhân và gia đình – Vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học. 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, từ những phân tích nói trên có thể hiểu hủy việc kết hôn trái pháp luật như sau: “Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lí đối với những trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn nhằm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật hôn nhân và gia đình, thể hiện thái độ phủ định của nhà nước đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật nhằm làm chấm dứt việc kết hôn trái pháp luật”.
Từ định nghĩa có thể thấy hủy việc kết hôn trái pháp luật mang những đặc điểm cơ bản.