Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Khái niệm và vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế 1. Khái niệm về vốn Trong cuốn từ điển kinh tế hiện đại có giải thích: "Capital - tư bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau.
Vì vậy, tư bản này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr. 129) Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá: Gt = c + v + m (1.1) Trong đó : Gt : Giá trị của hàng hóa hay dịch vụ. c : Tư bản bất biến – Phần khấu hao giá trị của tư liệu sản xuất và vật tư sản xuất chuyển sang hàng hóa hay dịch vụ.
(v + m) : Tư bản khả biến – Phần giá trị mới do người công nhân điều hành máy để tạo ra hàng hóa hay dịch vụ. v : Tiền mà nhà tư bản bỏ ra trả cho người công nhân. m : Thặng dư sức lao động của công nhân mà nhà tư bản chiếm hữu. Để tiến hành tái sản xuất nhà tư bản cần chi phí về vốn cho cả tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Tư bản khả biến ở đây hoàn toàn không đồng nghĩa với người lao động. Nói cách khác, lao động không phải là vốn đầu tư mà chỉ có sức lao động đã chi ra mới là yếu tố hình thành vốn đầu tư. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- Quan niệm thứ ba cho rằng vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất. Muốn tiến hành tái sản xuất cần chi phí về đất đai; tài chính (vốn) và lao động.
Người ta thường nói: "Lao động là vốn quý". Vốn để đầu tư phát triển kinh tế còn bao gồm cả những nguồn lực cho khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiên cứu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và triển khai, đào tạo cán bộ trong xã hội hiện nay có mặt ở hầu hết các ngành, các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh. Bên cạnh những trung tâm, đơn vị lớn có ngân sách riêng, còn rất nhiều cơ quan đơn vị khác phần ngân sách này là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động thường xuyên.
Tóm lại vốn để đầu tư phát triển kinh tế đầu tư được xem xét ở đây chỉ với tư cách là nguồn lực vật chất, là sức lao động được sử dụng có ý thức nhằm tạo dựng tài sản (hữu hình và vô hình) để nâng cao và mở rộng sản xuất, thông qua việc xây dựng, mua sắm thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu cho sản xuất, nghiên cứu, triển khai và tiếp thu công nghệ mới và nâng cao đời sống người dân. Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế : Để tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững thì một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng đối với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu tư. Người ta hay nói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho kinh tế của 5 con rồng Châu Á tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do vốn để đầu tư phát triển kinh tế tăng lên liên tục và thường chiếm khoảng 30% trong GDP. Nếu xét trên giác độ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì sự tăng thêm của GDP tỷ lệ thuận với đầu tư; tỷ lệ nghịch với ICOR.
Đầu tư chính là vốn đầu tư phát triển đã thực hiện trong năm. GDP tăng Đầu tư trong năm thêm = (1.2) ICOR TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Trong kinh tế học người ta phân chia sự khác biệt giữa tăng trưởng với phát triển. Tăng trưởng là sự tăng thêm về số lượng và gần đồng nghĩa với tốc độ tăng trong thống kê. Phát triển bằng tăng trưởng cộng thêm với sự thay đổi về chất và cơ cấu của hiện tượng nghiên cứu.
Vì vậy, đầu tư để phát triển thì ngoài việc đầu tư để tăng năng lực sản xuất còn phải đầu tư để nâng cao chất lượng của sự tăng trưởng. Điều đó có nghĩa là phải có một bộ phận của đầu tư không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động như đầu tư cho nghiên cứu, cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống, đầu tư cho giáo dục, cho xoá đói giảm nghèo,. Đây là một loại đầu tư cần thiết nhưng không làm tăng TSCĐ hoặc TSLĐ song nó lại là yếu tố cực kỳ quan trọng để nâng cao chất lượng cho sự tăng trưởng. Với cách tiếp cận như vậy chúng tôi cho rằng các khoản đầu tư trên thuộc về đầu tư phát triển của xã hội.
Những khoản đầu tư này chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư hàng năm. Chính từ sự phát triển của các nước cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khóa của sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế, thể hiện: - Vốn là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất - kinh doanh: Vốn là tiền đề cho ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế. Là một phạm trù tài chính, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được quan niệm như là khối lượng giá trị, được tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, vốn được biểu hiện bằng giá trị và đại diện cho một khối lượng tài sản nhất định.
Giữa vốn và tiền có quan hệ với nhau. Muốn có vốn thì phải có tiền, song có tiền thậm chí những khoản tiền lớn cũng không phải là vốn. Một khối lượng tiền được coi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp khi đáp ứng các điều kiện như: tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực; tiền phải được tích tụ và tập trung đủ để đầu tư cho một dự án; tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn vừa là yếu tố đầu vào, đồng thời vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình sản xuất.
Chính trong quá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc lập, không thể thiếu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt động phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau, không thể mất đi mà vốn phải được bảo toàn và phát triển. - Vốn là nhân tố quan trọng có tính quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh tế: + Tác động của vốn đầu tư đến cân bằng kinh tế vĩ mô: Một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là đòi hỏi phải đảm bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó giữa tiết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tư phát triển, vừa tiêu hóa số tiền tiết kiệm một cách hiệu quả. Vốn chính là hiện thân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư.
Số tiền tiết kiệm được gọi là vốn khi được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư. Nền kinh tế có tiết kiệm mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộng quy mô đầu tư. Thế nhưng, trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Công chúng quyết định tiết kiệm bao nhiêu trong thu nhập của mình và doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô đầu tư ở mức độ nào, tất cả đều là những biến cố độc lập.
Vì vậy, giữa tiết kiệm và đầu tư khó ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp gia tăng … Vì vậy, để vực dậy nền kinh tế và thiết lập sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư nhằm tiêu hóa có hiệu quả số vốn từ tiết kiệm, đồng thời kích cầu bằng những chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý. Ở những nền kinh tế đang phát triển, trong thời kỳ công nghiệp hóa, nhu cầu vốn đầu tư thường vượt xa số tiền tiết kiệm có được, các nền kinh tế đó phải huy động một lượng vốn lớn từ bên ngoài để bổ sung vào sự thiếu hụt đó. Vốn nước ngoài tăng nhanh, trước mắt góp phần đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhưng lâu dài lại trở thành gánh nợ đè nặng lên ngân sách, cán cân thanh toán, tỷ giá … Vì vậy, để ổn định kinh tế, Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ các dòng vốn nước ngoài, đồng thời chấn chỉnh lại nền tài chính quốc gia, thực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- hành tiết kiệm để nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trong nước. + Tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế: Tính quan trọng đặt biệt của vốn thể hiện ở chỗ, thiếu nó những nguồn lao động, tài nguyên chỉ nằm dưới dạng tiềm năng.
Muốn khai thác các nguồn lực này đòi hỏi các nền kinh tế luôn phải duy trì một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định. + Tác động đến phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Kinh tế học đã xác lập rằng, sự phát triển của nền kinh tế phải đặt trong sự tương quan chặt chẽ với phát triển cơ sở hạ tầng. Như Ngân hàng Thế giới đã nhận định, đối với mọi quốc gia mức tăng tổng sản phẩm quốc gia thường tương ứng với sự gia tăng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Vì vậy, muốn phát triển kinh tế, nền kinh tế nhất thiết phải có vốn để tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng.
Khi nền kinh tế phát triển cao thì cơ sở hạ tầng cần phải phù hợp với sự tiến triển của nhu cầu. Mặt khác, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏi nền kinh tế phải tạo ra bộ khung kinh tế cân đối hài hòa cả về cơ cấu ngành lẫn cơ cấu vùng và lãnh thổ.