CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Khái niệm và đặc điểm của du lịch 1. Khái niệm về du lịch Trong đời sống của con người hiện đại ngày nay, hoạt động du lịch đã trở thành một hoạt động KTXH phổ biến và ngành du lịch nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới.
Du lịch từ lâu đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu. Trên thế giới có rất nhiều các khái niệm khác nhau về du lịch. Tùy theo các cách tiếp cận khác nhau, các góc độ nghiên cứu khác nhau về du lịch mà có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Năm 1941, Hunziker và Krapf định nghĩa du lịch như sau: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời [115].
Định nghĩa xem xét du lịch liên quan đến tất cả sự di chuyển của con người tuy nhiên vẫn có hạn chế khi chưa phản ánh hết các hoạt động du lịch như hoạt động trung gian. Định nghĩa này được Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học du lịch (IAEST-International Association of Scientific Experts in Tourism) chấp nhận làm cơ sở cho môn khoa học du lịch nhưng cần phải tiếp tục hoàn thiện. Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Theo định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO-United Nations World Tourism Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du 17 hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. Định nghĩa của UNWTO về du lịch lại hướng đến chủ yếu là các hoạt động của khách du lịch (du hành, tạm trú, tham quan, khám phá, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn). Các hoạt động này được quy định là phải diễn ra liên tục trong 1 khoảng thời gian nhất định, ở một không gian nhất định mà không phải là nơi mình định cư sinh sống, và không có mục đích kinh tế (kiếm tiền).
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa, Canada 06/1991: Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm. Định nghĩa này xem xét hoạt động du lịch có góc độ khách du lịch, do vậy chưa phản ánh đầy đủ nội dung của hoạt động du lịch. Theo liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Travel Oragnization: IUOTO): "Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống." Trong Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua khoá XIV, kỳ họp thứ ba tháng 06/2017, tại Điều 3 thuật ngữ “du lịch” và “hoạt động du lịch” được hiểu như sau: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch [58].
Định nghĩa này xem xét du lịch như là một hoạt động, xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn có được trong các chuyến đi. 18 Với cách tiếp cận trên, định nghĩa du lịch chỉ bàn đến hoạt động của khách du lịch, không bàn đến hoạt động kinh doanh du lịch. Trường Đại học Tổng hợp Kinh tế thành phố Varna (Bungari) đưa ra định nghĩa: " Du lịch là một hiện tượng kinh tế, xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn, chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập; đó là tổ chức các xí nghiệp với CSVC kỹ thuật chuyên môn nhằm bảo đảm sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất, tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên mà không có mục đích kiếm lời" [118]. Định nghĩa này xem xét du lịch là một phạm trù kinh tế với đầy đủ tính đặc trưng và vai trò của một bộ máy kinh tế, kỹ thuật điều hành.
Tuy nhiên, trong định nghĩa này lặp đi lặp lại một số ý. Theo tác giả Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải trong giáo trình Thống kê du lịch: “Du lịch là một ngành KTXH, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác” [106]. Định nghĩa này đã xem xét du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ nhưng chưa đầy đủ, chưa bao quát được bản chất của ngành kinh tế này. Theo tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà trong giáo trình Kinh tế Du lịch, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội đã đưa định nghĩa du lịch trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch thế giới và tại Việt Nam: Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ của những DN nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lưu trú, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị-xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân DN [33]. Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ nội dung và bản chất của hoạt động du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ. Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được sự biến đổi trong nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch, một số quan điểm cho rằng du lịch là hoạt động của con người với những nhu cầu nhất định, số khác lại cho rằng đây phải là một hoạt động kinh tế, 19 nhiều học giả lồng ghép cả hai nội dung trên, tức du lịch là tổng hòa các mối quan hệ KTXH phát sinh từ hoạt động di chuyển. Có thể thấy, ngày nay, du lịch đã được nhìn nhận như là ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh.
Trên thực tế, du lịch ở nhiều nước không những đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội,. và ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Qua nghiên cứu các khái niệm, định nghĩa về du lịch từ trước đến nay, NCS cơ bản thống nhất với nội dung định nghĩa của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội bởi đã phản ánh đầy đủ nội dung và bản chất của du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ. Để có được cách tiếp cận tổng quát và đầy đủ hơn về du lịch như một ngành kinh tế mũi nhọn của một quốc gia hay của địa phương, quan điểm của NCS về du lịch như sau: “Du lịch là một ngành kinh tế bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của DN và cộng đồng dân cư địa phương, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế, chính trị, xã hội cho địa phương, nước làm du lịch, cho DN du lịch, cộng đồng dân cư địa phương”. Đặc điểm của du lịch Du lịch là ngành có mối liên hệ mật thiết với nhiều nhóm ngành kinh tế khác, đặc biệt là những nhóm ngành dịch vụ. Bởi có sự liên kết với nhau nên chúng sẽ luôn tác động ảnh hưởng qua lại. Việc tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của du lịch với tư cách là một ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân đóng vai trò rất quan trọng để xây dựng định hướng và đưa ra các chính sách phù hợp cho PTDL.
Những đặc điểm chung của du lịch cụ thể như: - Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, vừa được thư giãn vừa trải nghiệm thêm nhiều điều hay mới lạ mà du khách chưa biết. - Du lịch là tổng hợp của nhiều hoạt động khác nhau của con người. Trong một chuyến du lịch, bên cạnh các nhu cầu đặc trưng xuất phát từ mục đích chủ yếu của 20 chuyến đi của du khách là tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, chữa bệnh… còn có nhiều nhu cầu khác nữa như là mua sắm hàng hoá, đổi tiền, thể thao, tham gia các dịch vụ vui chơi giải trí… - Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, sự PTDL giúp đa dạng hóa và kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế khác: giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại… Ngoài ra, du lịch còn giúp tăng cường CSHT, CSVC kĩ thuật cho cộng đồng.