phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chƣơng 2: Cơ sở l luận về huy động vốn đầu tƣ cho khu, cụm công nghiệp ở địa phƣơng; Chƣơng 3: Thực trạng huy động vốn đầu tƣ cho khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Chƣơng 4: Một số giải pháp huy động vốn đầu tƣ cho khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Có thể khẳng định rằng, sự ra đời và phát triển của các KCCN tại nhiều quốc gia, đặc biệt là tại các nƣớc đang phát triển đã giúp thu hút đƣợc một nguồn vốn lớn cũng nhƣ công nghệ tiên tiến từ các doanh nghiệp nƣớc ngoài và các thành phần kinh tế trong nƣớc, từ đó đóng góp không nhỏ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên để thành lập và phát triển các KCCN thì yếu tố mang tính quyết định chính là vốn đầu tƣ. Có thể nói vốn đầu tƣ chính là yếu tố sản xuất quan trọng đối với phát triển tăng trƣởng kinh tế nói chung và phát triển các KCCN nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh ngân sách nhà nƣớc eo hẹp.
Chính vì vậy, việc huy động vốn đầu tƣ để đáp ứng nhu cầu vốn cho KCCN là một vấn đề đã và đang nhận đƣợc nhiều sự quan tâm chú. Cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề vốn đầu tƣ cho KCCN theo nhiều góc độ khác nhau. Để làm rõ cho đối tƣợng nghiên cứu của đề tài, luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu theo các nhóm nhƣ sau: (1) Các l thuyết về đầu tƣ, thu hút vốn đầu tƣ (2) Các nghiên cứu về huy động vốn đầu tƣ cho phát triển (3) Các nghiên cứu về huy động vốn đầu tƣ cho KCCN 1. Các lý thuyết về đầu tƣ và thu hút vốn đầu tƣ Cho đến nay các nhà kinh tế học trên thế giới đã nghiên cứu, đúc kết đƣợc nhiều lý thuyết giải thích về các yếu tố thu hút đầu tƣ, cũng nhƣ việc dịch chuyển đầu tƣ quốc tế.
Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế, đầu tƣ luôn đƣợc nhìn nhận nhƣ là một quá trình phát triển phức tạp phụ thuộc vào nhiều yếu tố có thể thay đổi theo từng thời kỳ nhất định. Chƣa có l thuyết nào giải quyết đƣợc tất cả các khía cạnh của quá trình đầu tƣ, mỗi lý thuyết đều có những điểm mạnh và những hạn chế riêng. Lý thuyết vĩ mô Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tƣ quốc tế giải thích và dự đoán hiện 8 tƣợng đầu tƣ nƣớc ngoài dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tƣ (vốn, lao động, công nghệ) giữa các nƣớc, trong đó đặc biệt là giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển. Các lý thuyết này dựa trên mô hình cổ điển 2x2 (hai nƣớc, hai hàng hóa, hai yếu tố sản xuất) để so sánh hiệu quả vốn đầu tƣ hoặc tỷ suất lợi nhuận giữa các nƣớc.
Lý thuyết thương mại quốc tế Trên cơ sở mô hình l thuyết thƣơng mại quốc tế của Heckscher (1919) và Ohlin (1933), Richard .S (1986) đã loại bỏ giả định không có sự di chuyển các nhân tố sản xuất (vốn, công nghệ, …) giữa các nƣớc để mở rộng phân tích nguyên nhân hình thành đầu tƣ quốc tế. Theo ông, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở phạm vi toàn cầu nhờ vào sử dụng có hiệu quả vốn đầu tƣ là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện việc di chuyển của dòng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Richard cho rằng, nƣớc đầu tƣ thƣờng có hiệu quả sử dụng vốn thấp (thừa vốn), trong khi nƣớc nhận đầu tƣ lại có hiệu quả sử dụng vốn cao hơn (thiếu vốn). Vì vậy, chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn giữa các nƣớc đã làm xuất hiện lƣu chuyển dòng vốn đầu tƣ giữa các nƣớc.
Vận dụng khái niệm cạnh tranh độc quyền trong thƣơng mại quốc tế Krugman đã đƣa ra một l thuyết hoàn toàn mới về thƣơng mại quốc tế. Theo Krugman (1979) lợi thế về quy mô sản xuất sẽ làm giảm chi phí sản xuất. L thuyết này xây dựng trên các lập luận: (i) Quá trình chuyên môn hóa sản xuất và lợi thế kinh tế theo quy mô sẽ mang lại các khoản lợi ích cho các bên tham gia; (ii) Các doanh nghiệp đầu tiên gia nhập vào một thị trƣờng nào đó có thể tạo ra những rào cản nhất định đối với các doanh nghiệp gia nhập sau đó; (iii) Chính phủ của các nƣớc có thể có vai trò hỗ trợ có hiệu quả cho các công ty của nƣớc mình khi tham gia vào thị trƣờng thế giới. Mô hình của Paul Krugman giải thích tại sao thƣơng mại quốc tế vẫn có thể diễn ra giữa những nƣớc có lợi thế tƣơng đối về công nghệ và nhân tố sản xuất tƣơng tự nhau.
Lý thuyết về năng suất cận biên của vốn Cùng với quan điểm của Richard, MacDougall (1960) cho rằng, chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nƣớc là nguyên nhân dẫn đến lƣu chuyển 9 vốn quốc tế. Quan điểm này sau đó đƣợc Kemp (1964) phát triển thành mô hình Mac Dougall - Kemp để giải thích hiện tƣợng OFDI. Theo mô hình này, những nƣớc phát triển (đang thừa vốn đầu tƣ) có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nƣớc đang phát triển (đang thiếu vốn). Vì thế, xuất hiện dòng lƣu chuyển vốn giữa hai nhóm nƣớc này.
Ngoài ra, những giả định khác đó là: Thị trƣờng tại hai quốc gia là cạnh tranh hoàn hảo; Vốn đƣợc tự do di chuyển; Thông tin thị trƣờng hoàn hảo; Các quốc gia đều cùng sản xuất một loại hàng hóa. Mô hình này đã nêu đƣợc điều kiện cần cho đầu tƣ quốc tế là chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nƣớc nhƣng chƣa nêu đƣợc điều kiện đủ. Ngoài ra, mô hình còn chƣa giải thích đƣợc một số hiện tƣợng lƣu chuyển dòng vốn đầu tƣ quốc tế, không phân tách đƣợc FDI và FPI. Lý thuyết về cạnh tranh quốc gia Michael (1990) đã xây dựng nên lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia để lý giải cho việc tại sao một số quốc gia lại có đƣợc vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói cách khác là có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm.
Theo Michael Porter lợi thế cạnh tranh quốc gia đƣợc thể hiện qua sự liên kết của 4 nhóm yếu tố: (i) điều kiện các yếu tố sản xuất; (ii) điều kiện về nhu cầu thị trƣờng; (iii) các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; (iv) chiến lƣợc, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành. Ngoài ra còn có hai nhân tố có thể ảnh hƣởng đến lợi thế cạnh tranh quốc gia đó chính là các chính sách của Chính Phủ và cơ hội. Trong đó các yếu tố sản xuất tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia bao gồm: (i) tài nguyên nhân lực; (ii) tài nguyên vật chất; (iii) tài nguyên kiến thức; (iv) nguồn vốn; và (v) cơ sở hạ tầng. Lý thuyết vi mô Bên cạnh các l thuyết vĩ mô về đầu tƣ và đầu tƣ quốc tế thì các l thuyết vi mô về đầu tƣ thƣờng xoay quanh việc trả lời câu hỏi là tại sao các công ty lại đầu tƣ ra nƣớc ngoài? Các l thuyết này giải thích về nguyên nhân hình thành các công ty xuyên quốc gia và tác động của chúng đối với các nƣớc nhận đầu tƣ, đặc biệt là các 10 nƣớc đang phát triển.
Một số l thuyết vi mô về đầu tƣ điển hình có thể kể đến nhƣ: Lý thuyết tổ chức công nghiệp Trong số các lý thuyết tìm cách lý giải về đầu tƣ quốc tế, lý thuyết dựa trên những lý giải về tổ chức doanh nghiệp hiện có ảnh hƣởng lớn nhất. Lý thuyết tổ chức công nghiêp do Stephen Hymer nêu ra bắt nguồn từ luận án tiến sĩ nổi tiếng của Hymer hoàn thành năm 1960, công bố năm 1978. Theo Hymer (1976) sự phát triển và thành công của hình thức đầu tƣ liên kết theo chiều dọc phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) quá trình liên kết theo chiều dọc ở các giai đoạn khác nhau của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giảm bớt chi phí sản xuất; (2) viêc sản xuất áp dụng khai thác kỹ thuật mới; (3) những tiến bộ trong ngành giao thông và thông tin liên lạc mang đến cơ hội mở rộng hoạt động ra đầu tƣ nƣớc ngoài. Hymer cũng chỉ ra rằng nếu các MNCs nƣớc ngoài hoàn toàn giống với các doanh nghiệp trong nƣớc thì họ sẽ chẳng tìm thấy lợi ích gì khi xâm nhập vào thị trƣờng nƣớc đó, vì rõ ràng họ phải trả những chi phí phụ trội khi kinh doanh ở nƣớc khác, ví dụ nhƣ phí liên lạc và vận chuyển, chi phí cao hơn cho nhân viên làm việc ở nƣớc ngoài, rào cản về ngôn ngữ, hải quan và phải hoạt động ngoài mạng lƣới kinh doanh nội địa (đây là những bất lợi của các công ty khi đầu tƣ ra nƣớc ngoài).
Vậy nên Hymer cho rằng để các MNCs tiến hành sản xuất ở nƣớc ngoài họ cần có trong tay một số lợi thế sở hữu riêng của doanh nghiệp, nhƣ nhãn hiệu nổi tiếng, công nghệ cao hơn và đƣợc bảo hộ, kỹ năng quản lý hoặc chi phí thấp hơn nhờ mở rộng quy mô, những lợi thế này đủ để bù đắp lại những bất lợi mà họ phải đƣơng đầu trong cạnh tranh với các doanh nghiệp ở nƣớc sở tại. Tuy nhiên lý thuyết tổ chức công nghiệp cũng chƣa phải là giả thuyết hoàn chỉnh về FDI, nó không trả lời đƣợc câu hỏi vì sao công ty lại sử dụng hình thức FDI chứ không phải là hình thức sản xuất trong nƣớc rồi xuất khẩu sản phẩm hay cấp giấy phép hoặc bán những kỹ năng đặc biệt đó cho các công ty sở tại. Lý thuyết chiết trung Lý thuyết chiết trung đƣợc xây dựng bằng cách tổng hợp ba dòng lý thuyết về FDI là lý thuyết tổ chức công nghiệp, lý thuyết nội vi hoá và lý thuyết địa điểm 11 công nghiệp.