MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập HTX là hình thức tổ chức thích hợp để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho nhân dân, xoá đói giảm nghèo một cách bền vững, dần đưa tinh thần hợp tác thành văn hoá trong xã hội. Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001- 2010, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX là một trong những biện pháp quan trọng để phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ đất nước. Tổng kết năm năm thực hiện chuyển đổi HTX theo luật HTX (1996), hội nghị TW5 khoá IX (3/2002) đã ra nghị quyết về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”.
Trên cơ sở nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, ngày 20-11-2012, tại kì họp thứ 4 Quốc hội khoá XIII đã thông qua luật HTX số 23/2012/QH13 (Luật HTX 2012), có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2013. Hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa xã Tức Tranh chăn nuôi chủ yếu ngựa và hươu sao.Từ khi được thành lập, HTX chăn nuôi động vật bản địa tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương đã thu được nhiều thành tựu tốt như: Thu nhập của các thành viên trong HTX tăng lên, đời sống được cải thiện. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất HTX chăn nuôi động vật bản địa vẫn còn một số bất cập trong cách thức sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất kinh doanh như: Sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả, chưa có sự đầu tư trọng tâm; ít áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất còn yếu,. Từ thực tế trên, luận văn “Huy động và sử dụng vốn cho chăn nuôi tại hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên” là thật Luan van 2 sự cần thiết cho việc tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vào trong sản xuất kinh doanh, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế của HTX.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đề xuất giải pháp nhằm huy động và sử dụng vốn của HTX có hiệu quả. Mục tiêu cụ thể - Nắm được quá trình hình thành phát triển HTX chăn nuôi động vật bản địa. - Biết cách làm một số công việc liên quan đến sản xuất tại HTX.
- Tìm hiểu cách thức huy động và sử dụng vốn của HTX. - Đánh giá hiệu quả hoạt động của HTX. - Đề xuất một số giải pháp nhằm huy động và sử dụng vốn có hiệu quả của HTX chăn nuôi động vật bản địa trên địa bàn xã Tức Tranh. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Sinh viên biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài có thể là cơ sở để có những định hướng nhằm nâng cao năng xuất con giống và vật nuôi tại HTX chăn nuôi động vật bản địa, đồng thời làm cơ sở cho việc quy hoạch và sắp xếp cách thức tổ chức điều hành hợp tác xã.
Kết quả nghiên cứu còn làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về phát triển thị trường chăn nuôi của HTX nói riêng và địa bàn tỉnh nói chung. Luan van 3 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Tiền vốn - Vốn là giá trị của toàn bộ đầu vào bao gồm những tài sản, vật phẩm, tiện nghi để chi dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn trong nông nghiệp bao gồm: các loại tài sản cho sản xuất nông nghiệp; nguyên liệu, vật liêu.; cùng các loại tiền mặt, tiền gửi.
* Đặc điểm: - Trong cấu thành vốn cố định, ngoài những tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật còn bao gồm cả tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học, như cây lâu năm, súc vật làm việc, súc vật sinh sản. Trên cơ sở những tính quy luật sinh học, các tư liệu lao động này thay đổi giá trị sử dụng của mình khác với tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật. - Sự tác động của vốn sản xuất vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh doanh của nó không phải bằng cách trực tiếp mà thông qua đất, cây trồng, vật nuôi. Cơ cấu và chất lượng của vốn sản xuất phải phù hợp với yêu cầu của từng loại đất đai, từng đối tượng sản xuất là sinh vật.
- Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân chuyển chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố định, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài của vốn lưu động và làm cho vốn ứ đọng. Mặt khác sự cần thiết và có khả năng tập trung hoá cao về phương tiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so với công nghiệp. - Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào nhiều điều kiện tự nhiên, nên việc sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn. Luan van 4 - Một bộ phận sản xuất nông nghiệp không qua lĩnh vực lưu thông mà được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp, do vậy vòng tuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ và không đầy đủ.
Vòng tuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ phận vốn không được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật của chúng. Vòng tuần hoàn đầy đủ yêu cầu vốn lưu động phải trải qua tất cả các giai đoạn, trong đó có giai đoạn tiêu thụ sản phẩm. * Phân loại vốn trong sản xuất nông nghiệp - Vốn cố định trong nông nghiệp Tư liệu lao động là điều kiện vật chất không thể thiéu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Có nhiều loại tư liệu lao động và công dụng của mỗi loại không giống nhau, nhưng chúng đều có tính chất chung là giữ vai trò môi giới trong quá trình lao động, tạo nên sự kết hợp giữa người lao động và đối tượng lao động.
Để tiến hành kinh doanh sản xuất cần thiết phải ứng trước một số tiền vốn nhất định để mua sắm tư liệu lao động. Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động không thay đổi hình thái vật chất ban đầu và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm mới theo mức độ hao mòn. Vốn đầu tư ban đầu thu hồi từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất thông qua quỹ khấu hao. Tài sản cố định hết thời hạn sử dụng sẽ được thanh lý đào thải.
Do đặc điểm trong quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động được gọi là tài sản cố định và phần vốn ứng trước được gọi là vốn cố định. Là tài sản cố định phải có đủ hai điều kiện: đạt giá trị tối thiểu theo quy định và thời hạn sử dụng phải trên một năm. Giá trị tối thiểu tuỳ thuộc từng thời kỳ Bộ tài chính có quy định cụ thể. Như vậy vốn cố định là số vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Phương thức luân chuyển và Luan van 5 bù đắp giá trị của nó là chuyển dần từng phần giá trị vào sản phẩm mới đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định kết thúc quá trình luân chuyển. - Vốn lưu động trong nông nghiệp Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài vốn cố định, các xí nghiệp nông nghiệp còn cần có vốn lưu động. Trong quá trình sản xuất, một bộ phận của đối tượng lao động chuyển vào sản phẩm mới (nguyên liệu) hoặc bị tiêu phí hoàn toàn và biến mất hình thái vật chất của mình (nhiên liệu). Giá trị của đối tượng lao động kết hợp với giá trị lao động sống và chuyển vào sản phẩm mới được sản xuất, sau đó chuyển sang hình thái tiền tệ.
Như vậy, vốn lưu động đã chuyển từ phạm vi sản xuất (dự trữ sản xuất) sang phạm vi lưu thông (thành phẩm, tiền thu được do tiêu thu sản phẩm) sau đó lại quay về phạm vi sản xuất (dự trữ mới cho sản xuất). Theo phương thức đó, toàn bộ vốn lưu động được sử dụng trong mỗi chu kỳ sản xuất cụ thể và thay đổi hình thức vật chất của mình. Vậy, vốn lưu động là vốn bằng tiền ứng trước để dự trữ cho sản xuất, để mua sắm vật rẻ tiền mau hỏng và hình thành vốn lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thu hàng hoá diễn ra một cách bình thường. Theo tính chất tham gia của các yếu tố vào quá trình sản xuất, vốn lưu động được chia thành ba bộ phận, bao gồm: Vốn lưu động dữ trữ cho quá trình sản xuất, vốn lưu động dùng trong quá trình sản xuất và vốn lưu động dùng trong quá trình lưu thông.
- Vốn lưu động dữ trữ cho quá trình sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ nguyên nhiên vật liệu, phân bón, thuốc trừ sâu, vật tư cho sản xuất phụ, phụ tùng dự trữ v. Chuẩn bị cho vụ sản xuất sau và những vật tư bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất có thể tiến hành một cách liên tục. Vốn lưu động nằm trong quá trình dữ trữ và bảo hiểm sản xuất được phân thành ba Luan van 6 loại: Loại dự trữ cho bản thân xí nghiệp nông nghiệp tạo ra, bao gồm: giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn gia súc, phân bón hữu cơ. Loại thứ hai là những dự trữ mua từ ngoài vào, bao gồm: phân bón, thuốc trừ sâu, phụ tùng thay thế nhiên liệu, dầu mỡ v.
Và loại cuối cùng là những dự trữ sản xuất do các xí nghiệp nông nghiệp vay tiền ngân hàng mua vật tư kỹ thuật. Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, vốn lưu động dữ trữ và bảo hiểm sản xuất cần đảm bảo mức dự trữ cần thiết để hoạt động được bình thường. Bản chất của dự trữ cũng có hai mặt: Một mặt nó đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành thuận lợi và liên tục.