LỜI MỞ ĐẦU Trong lịch sử phát triển nên nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn, phát triển kinh tế hợp tác _ ., trong đó hợp tác xã là nòng cốt đã là một trong những chủ trương lớn quan trọng và được Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm. Kinh tế tập thể ở đồng bằng Bắc Bộ đã phát triển qua nhiều giai đoạn. Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 50 đến những năm đầu của thập kỷ tám mươi của thế kỷ XX, mô hình hợp tác xã tập thể hoá với việc sở hữu tập thể những tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp đã chiếm vị trí thống trị. Kinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh đã là những hình thức tổ chức sản xuất cơ bản trong nông nghiệp.
Những hình thức tổ chức sản xuất khác gần như bị thủ tiêu. Kinh tế tập thể đã phát huy vai trò to lớn trong cuộc cải cách ruộng đất, trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trong việc xây dựng một số cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, đo nhiều nguyên nhân khác nhau, mô hình hợp tác xã tập thể hoá duy trì trong một thời gian khá dài đã gặp những khó khăn, trở lực không thể vượt qua nổi và lâm vào khủng hoảng, đặc biệt là những năm cuối của thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Từ đó đã ảnh hưởng khá lớn đến sự phát triển của nông nghiệp cũng như kinh tế của khu vực nông thôn và toàn bộ nền kinh tế.
Giải đoạn kể từ đầu những năm 80 đến khi luật hợp tác xã ra đời và có hiệu lực (1996 - 1997). Nền kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nói riêng đã bước sang giai đoạn đổi mới đã tác động sâu sắc đến hệ thống kinh tế hợp tác xã. Chi thi 100 - CT/TW cua Ban bí thư Trung ương (Khoá IV, năm 1981) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp là một bước đột phá khởi đầu cho sự phát triển của nông nghiệp. Đường lối đổi mới kinh tế toàn diện chính thức đã được bắt đầu từ đại hội VI của Đảng (1986) với việc chuyển nên kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mở ra một hướng mới, căn bản cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Đến nghị quyết I0-NQ/TW của Bộ chính trị (Khoá VỊ - 1988) về đổi mới quản lý kinh tế kinh tế nông nghiệp đã tạo ra một bước ngoặt thật sự trong sự phát triển kinh tế của khu vực nông thôn nói riêng và toàn bộ nên kinh tế nói chung. Kinh tế hộ nông dân đã được thừa nhận và được xác lập lại và cùng với nó là việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong nông thôn. Năm 1993, luật đất đai đã ra đời, đã trao ruộng đất cho hộ nông dân với năm quyên năng được thừa nhận. Sự xác lập hộ nông dân với những quyền năng đất đai được trao cho họ đã là động lực cơ bản tạo ra sự phát triển.
Nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã phát triển vượt bậc. Song kể từ khi có chỉ thị 100 đến khi có luật đất đai, với việc xác lập và phát triển mạnh mẽ, sinh động của kinh tế hộ nông dân thì cũng là thời kỳ hệ thống hợp tác xã bị buông lơi và vị trí và vai trò của nó đã bị giảm sút nhiều. Hộ nông dân đã thay thế hợp tác xã trong rất nhiều hoạt động kinh tế, nhất là những công việc trực tiếp trên đồng ruộng. Hợp tác xã chỉ duy trì ở một số hoạt động mang tính địch vụ và nói chung, các hoạt động của hợp tác xã chậm được đổi mới.
Trong khi đó kinh tế hộ nông dân phát triển có mặt tự phát. Năm 1996, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 68 CT/TW về phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế. Tiếp đó, năm 1996, Quốc hội ban hành luật hợp tác xã. Kể từ khi thực hiện luật hợp tác xã đến nay, Kinh tế hợp tác, hợp tác xã mặc dù đã có sự phát triển thay đổi về chất nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc cần được giải quyết như cơ sở hình thành hợp tác xã, mô hình tổ chức hợp tác `xã còn ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của hợp tác xã, vấn đề sở hữu trong hợp tác xã chưa thật rõ ràng, mức góp vốn theo điều lệ quy định rất thấp nhưng phần lớn xã viên chưa góp vốn, quỹ, cơ sở vật chất kỹ thuật.
của hợp tác xã còn nghèo nàn; nợ nần, tài sản của hợp tác xã cũ chậm được xử lý thoả đáng; đội ngũ cán bộ hợp tác xã còn yếu về trình độ, hiệu quả quản lý thấp, mặc dù chuyển sang hợp tác xã mới thực hiện theo luật nhưng dấu ấn của hợp tác xã cũ vẫn nặng nề, mức độ vi phạm luật còn khá phổ biến, hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã chuyển biến chậm, bản thân số đông các hợp tác xã chưa có sức sống và tính hấp dẫn do hiệu quả kinh tế đích thực còn kém, khả năng cạnh tranh yếu. nhiều nhu cầu bức thiết của kinh tế hộ chỉ được hợp tác xã đáp ứng một phần nhỏ, nhiều lĩnh vực quan trọng còn bị bỏ trống, kinh tế hộ đang gặp những khó khăn không nhỏ, vị trí vai trò của hợp tác xã chưa được phát huy. Bởi vậy, việc nghiên cứu về phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ sau khi có luật hợp tác xã là cần thiết để có chính sách và giải pháp hợp lý nhằm nâng cao vai trò và vị trí của hợp tác xã trong nền kinh tế quốc dân, thực hiện chủ trương của Đảng đã nêu ra trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX: thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nên tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa đạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. on Phần thứ nhất MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ 1. HỢP TÁC(HAY HIỆP TÁC) Hợp tácthay hiệp tác là hình thức xã hội hoá lao động, hoạt động chung của nhiều người trong cùng mội tuá trình lao động khác nhau có liên hệ với nhau. Hiệp tác lao động là hình thức tổ chức lao động của nhiều người cùng tham gia vào cùng một quá trình lao động khác nhau nhưng có quan hệ với nhau.
“ Hợp tác có thể diễn ra giữa các cá nhân với nhau, nhưng có thể diễn ra giữa các cá nhân và tổ chức hoặc giữa các tổ chức với nhau. Sự hợp tác luôn luôn là yêu cầu khách quan của sự phát triển. Nó là một phương thức tắt yếu, khách quan trong hoạt động sản xuất, hoạt động kinh tế cũng như những hoạt động khác của con người.Mác đã chỉ rà rằng hợp tác trong lao động là bản tính xã hội của con người. Trong quá trình lao động sản xuất không phải bao giờ lao động cá nhân hoặc của một đơn vị sản xuất cũng diễn ra một cách suôn sẻ.
Trong nhiều trường hợp lao động cá nhân, thậm chí một đơn vị sản xuất không tự khắc phục được hết những trở ngại khách quan ảnh hưởng tới sản xuất và trở nên bất lực hoặc tiến hành một cách kém hiệu quả nếu thiếu sự hợp tác. Hơn nữa, các hoạt động của con người luôn diễn ra trong xã hội, trong các quan hệ ràng buộc, trong các quan hệ trao đổi. Chính vì vậy, quá trình sản xuất, các hoạt động kinh tế đòi hỏi con người luôn phải hợp tác, liên kết với nhau để khắc phục những khiếm khuyết cá nhân, để đảm bảo sản xuất có hiệu quả hơn. Sự hợp tác bao giờ cũng nhằm thoả mãn những nhu cầu, những lợi ích, những mục tiêu của những chủ thể hợp tác.
Trong khi thực hiện những lợi ích riêng biệt của các chủ thể, nó đồng thời thực hiện được cả những lợi ích chung. Và cũng vì thế đảm bảo cho sự hợp tác phát triển liên tục và ở trình độ cao hơn. Quan hệ hợp tác sẽ không tiến triển nếu như các lợi ích trên không được thoả mãn. Hợp tác là một trong những con đường xã hội hoá các hoạt động của con người.
Trình độ xã hội hoá lao động của con người, sự tiến triển của nó quy định các hình thức hiệp tác cũng như sự tiến triển của hiệp tác. Mặt khác, các hình thức hợp tác, sự phù hợp, thích hợp của hợp tác lại thúc đẩy trình độ xã hội hoá lao động, thúc đẩy sức sản xuất phát triển, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và qua đó tạo ra những khả nãng mới nâng cao trình độ của sự hợp tác lên những bước cao hơn. Hợp tác biểu hiện ở những hình thức rất kbác nhau. Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và có hiệu quả cao vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân của các quá trình hợp tác rộng rãi giữa các cá nhân, giữa các tổ chức, giữa cá nhân với tổ chức.
5 + Song sự hợp tác đó được thực hiện ở nhữn va ° hình thức rất khá ip đế từ giản đơn đến phức tạp. Vừa đa đạng Ẹ ác nhau, tự thấp đến cao, 7 B1 vừa phong phú và được thực hiện trên tất cả he lĩnh vực như lao động, vốn, dịch vụ, thương mại, sản xuất, công nghệ. và được we hiện trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống. Sự hợp tác không chỉ diễn ra trên phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên phạm vi quốc tế, ; Những hình thức hợp tác cụ thể là tuỳ thuộc vào trình độ phái triển của lực lượng Sản Xuất và quan hệ sản xuất, tuỳ thuộc vào trình độ phân công lao động xã hội và tuỳ thuộc vào tác phương thức hoạt động kính tế của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định.
Các hình thức hợp tác kinh tế phù hợp, thích hợp bao giờ cũng tạo ra sức mạnh mới. Hiệp tác lao động tạo ra lực lượng sản xuất mới của xã hội, tạo ra khả năng sử dụng tư liệu sản xuất một cách tốt hơn và tiết kiệm hơn, hoàn thành công việc trong một thời gian ngắn hơn, nâng cao năng suất lao động, giảm bớt lao động sống và lao động vật hoá trong mỗi đơn vị sản phẩm.