lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về kế toán quản trị. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo. Chƣơng 3: Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo. -3- CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 Vai trò và nội dung của kế toán quản trị 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán tài chính và KTQT 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán tài chính [10] Kế toán là một công cụ hữu hiệu không chỉ giúp cho các nhà quản lý nắm đƣợc thực trạng tài chính nhằm hạch định kế hoạch phát triển cho tƣơng lai của công ty mà còn là mối quan tâm của các nhà đầu tƣ tài chính, các ngân hàng, Nhà nƣớc… nhằm phục vụ cho những mục đích của mình.
Hạch toán kế toán gắn liền với sản xuất do đó ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ ngƣời ta đã sử dụng hạch toán kế toán đẻ ghi chép theo dõi quá trình sản xuất. Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trƣớc công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá nhƣ bánh mì, dê, quần áo. Bản ghi này đƣợc gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae đƣợc gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp ngƣời nhận kiểm tra lại chất lƣợng và giá cả của số hàng mình nhận đƣợc.
Lúc này vẫn chƣa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trƣớc công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và đƣợc sử dụng cho đến ngày nay. Việc giữ các bản ghi vẫn chƣa đƣợc hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice và Genoa. Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện đƣợc bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối. Tuy nhiên, phải đến năm 1299 con ngƣời mới phát triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế toán kép.
Vào năm 1494 Luca Pacioli tác giả cuốn Summa hệ thống kế toán kép mới đƣợc miêu tả một cách cụ thể và rõ nét. Sau đó 377 năm Josial Wedwood là ngƣời đầu tiên hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành. Hệ thống kế toán từ đó đã ngày càng đƣợc hoàn chỉnh hơn với việc hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành hiện đại của Donaldson Brown- Giám đốc điều hành của General Motor. Hiện nay trên thế giới đã có một tổ chức riêng ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế.
Tổ chức thiết lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm Tổ chức ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASCF), Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC), Hội đồng hƣớng dẫn báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC). -4- * IASCF có trách nhiệm giám sát IASB, là tổ chức ban hành chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). SAC có trách nhiệm tƣ vấn các vấn đề kỹ thuật và lịch làm việc cho IASB. IFRIC, dƣới sự quản lý của IASB, có trách nhiệm ban hành các hƣớng dẫn báo cáo tài chính quốc tế.
* IASCF gồm mƣời chín (19) ủy thác viên gồm sáu (6) từ Bắc Mỹ, sáu (6) từ châu Âu, bốn (4) từ châu Á - Thái Bình Dƣơng, và ba (3) từ bất kỳ khu vực nào khác miễn là sự cân bằng về khu vực địa lý đƣợc giữ vững. * IASB có 14 thành viên đến từ 9 quốc gia có trách nhiệm thiết lập các chuẩn mực kế toán. Các thành viên của IASB đƣợc lựa chọn theo tiêu chuẩn trình độ chuyên môn chứ không phải theo khu vực bầu cử hay quyền lợi khu vực. Các thành viên của IASB có nguồn gốc là các kiểm toán viên thực hành, ngƣời lập các báo cáo tài chính, ngƣời sử dụng các báo cáo tài chính, và từ hàn lâm.
Bảy trong 14 thành viên có trách nhiệm trực tiếp liên hệ với một hay nhiều hơn các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia. Việc công bố một chuẩn mực, dự thảo, hay hƣớng dẫn cần đƣợc sự tán thành của 8 trên 14 thành viên. * Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) bao gồm các nhóm cá nhân có các nguồn gốc chức năng và khu vực địa lý khác nhau nhằm cố vấn cho IASB và đôi khi, cho các ủy thác viên. * Các thành viên của IFRIC đến từ các khu vực địa lý rộng rãi, có trình độ giao dịch cao, đại diện của các kế toán viên trong các ngành nghề và ngƣời sử dụng các báo cáo tài chính.
* Thêm vào đó, tất cả các thành viên của IASB có trách nhiệm liên hệ với các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia không có thành viên của IASB trong tổ chức lập quy của họ. Ngoài ra, nhiều quốc gia này cũng có mặt trong Hội đồng cố vấn chuẩn mực. * Nhƣ vậy, trên thế giới hệ thống tài chính kế toán đã có đƣợc sự thống nhất cơ bản để các nƣớc dựa vào đó xây dựng các chuẩn mực tài chính kế toán của mình. Tại Việt Nam hệ thống tài chính kế toán đã phát triển qua ba giai đoạn chính: Trƣớc những năm 1990: Đây là giai đoạn mà nền kinh tế của nƣớc ta là nền kinh tế bao cấp, các thành phần kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà giữ thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh và không có các hoạt động thƣơng mại buôn bán tự do trên thị trƣờng.
Do đặc điểm này mà hoạt động nghề -5- nghiệp của các kế toán viên chủ yếu tuân thủ theo nội quy, quy định của Bộ Tài chính – cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm quản lý tài sản XHCN. Từ năm 1991 đến năm 1994: Đất nƣớc ta chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN. Sự xuất hiện của nền kinh tế nhiều thành phần đã tác động đến bản chất và đặc thù của nghề kế toán. Nhiều thuật ngữ trong lĩnh vực kế toán ra đời nhƣ khái niệm lãi, lỗ, lợi nhuận… mà đối với nhiều kế toán viên chỉ quen làm trong nền kinh tế bao cấp là khá trừu tƣợng và khó hiểu.
Do thực tế khách quan thay đổi nên giai đoạn từ năm 1995 đến nay chính là thời gian mà hệ thống kế toán tài chính nƣớc ta có những bƣớc phát triển cao nhất và hoàn thiện nhất. Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay hệ thống kế toán toán tài chính nƣớc ta đã hình thành và phát triển lĩnh vực kiểm toán. Sự phát triển vƣợt bậc này đƣợc đánh dấu bởi sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam do quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua cũng nhƣ các chuẩn mực về kế toán tài chính riêng của Việt Nam đã đƣợc ban hành. Kế toán tài chính tại Việt Nam không còn phát triển một cách đơn lẻ tự phát nội bộ mà đã có hệ thống và liên kết với thế giới.
Đánh dấu bƣớc phát triển quan trọng này là vào năm 1996 - Hội kế toán Việt Nam (VAA) ra đời và trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng nhƣ là thành viên của Liên đoàn kế toán các nƣớc ASEAN (AFA).2 Lịch sử hình thành và phát triển của KTQT KTQT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ XIX. Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đáng giá đƣợc hoạt động của chúng. Một trong các DN áp dụng KTQT đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills. Để xác định đƣợc hiệu quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể và đánh giá đƣợc kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tƣ, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày.
KTQT cũng đƣợc áp dụng tại công ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đƣờng sắt vào năm 1840 khi phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công việc xử lý ngày càng phức tạp. Để kiểm soát thu, chi trên địa bàn rộng lớn công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo từng khu vực để lập báo cáo cho các nhà quản trị. Trên cơ sở của hạch toán chi phí Albert Fink – phó chủ -6- tịch công ty là ngƣời đầu tiên tính toán đƣợc chi phí cho 1 tấn/km vận chuyển vào cuối thập niên 60 của thế kỉ này. Trong ngành luyện kim, KTQT cũng đƣợc áp dụng từ rất sớm.
Andrew Carnegie - một doanh nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng KTQT để quản lý DN của mình từ năm 1872. Dựa trên ý tƣởng sử dụng chi phí nhƣ nhau thì phải tạo ra đƣợc lợi nhuận bằng nhau, ông ta đã chia DN của mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán. Carnegie sử dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tƣ và nhân công sử dụng ở rừng bộ phận để kiểm soát và đánh giá hoạt dộng của chúng. Việc kiểm soát chất lƣợng và cơ cấu vật liệu cũng đƣợc thực hiện trong quá trình sản xuất.
Bằng cách này Carnegie đã giảm đƣợc chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản xuất và đƣa ra đƣợc giá bán hợp lý. Không chỉ trong ngành đƣờng sắt, luyện kim, KTQT trong giai đoạn này còn đƣợc áp dụng cả trong các ngành dầu khí, hoá chất và cơ khí chế tạo. Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm soát đƣợc các chi phí sản xuất trực tiếp. Các phƣơng pháp phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm và các thông tin về sử dụng TSCĐ vẫn bị bỏ qua.
KTQT tiếp tục phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX mà Pierre du Pont, Donaldson Brown và Alfred Sloan là những ngƣời đóng góp nhiều cho sự phát triển của KTQT trong giai đoạn này. Công ty Du Pont Power đƣợc thành lập vào năm 1903 bằng việc hợp nhất các công ty nhỏ sản xuất các bộ phận sản phẩm với nhau. Để dễ dàng kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, Du Pont chia công ty thành các bộ phận nhỏ và thay đổi từ mô hình quản trị tập trung sang mô hình quản trị phân quyền.