Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự Quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Vì vậy, khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụ việc mà Tòa án giải quyết vụ việc theo thủ tục TTDS, tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính. Trong đó, TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải quyết một vụ việc dân sự. Pháp luật của đa số các nước quan niệm vụ việc dân sự là các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, theo đó các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được gọi là vụ án dân sự; các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được gọi là việc dân sự. Như vậy, khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác thì Tòa án phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định để ra một phán quyết công minh, chính xác và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, bản án, quyết định của Tòa án vì nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan vẫn có thể có những thiếu sót, sai lầm. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời khắc phục những sai lầm có thể có trong các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì các nước đều áp dụng "nguyên tắc xét xử vụ án theo nhiều cấp và tổ chức Tòa án theo thứ bậc" [14, tr. Tuy nhiên, các 12 nước thực hiện nguyên tắc này không hoàn toàn giống nhau. Các nước theo truyền thống pháp luật dân sự áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, các nước theo truyền thống pháp luật án lệ áp dụng nguyên tắc chung thẩm (Principle of Finality) [9, tr.
Đối với các nước áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử như Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga… thì sau khi Tòa án sơ thẩm tuyên án, bản án quyết định chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn một thời hạn để các đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát (Viện công tố) (VKS) kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm trừ trường hợp pháp luật quy định bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật ngay. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét lại vụ án về vấn đề sự kiện và luật pháp. Do đó, các chứng cứ mới do đương sự xuất trình có thể được chấp nhận ở Tòa án cấp phúc thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm có thể ra bản án mới. Ở các nước áp dụng nguyên tắc chung thẩm như Anh, Mĩ… thì các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự thì VKS không được kháng nghị phúc thẩm mà chỉ có đương sự có quyền kháng cáo phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên sửa chữa những sai lầm có thể có của Tòa án cấp dưới. Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm "chỉ xét lại về mặt pháp lý của vụ án chứ không xét đến các vấn đề sự kiện" [9, tr. Tòa án cấp phúc thẩm ở những nước này rất ít khi hoặc không tiếp nhận và xem xét các chứng cứ mới của vụ kiện mà chủ yếu thực hiện chức năng áp dụng và giải thích pháp luật, có nghĩa là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ sửa lại những lỗi, sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm và trả hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm nếu tìm ra lỗi mà không xem xét để ra một quyết định mới để thay thế quyết định của tòa cấp dưới. Ở Việt Nam, nguyên tắc xét xử vụ án theo nhiều cấp được thực hiện khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử.
Nhưng, hiện nay theo quy định tại Điều 17 13 của BLTTDS, chúng ta áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử. Theo đó, tất cả các bản án, quyết định sơ thẩm sau khi tuyên đều chưa có hiệu lực pháp luật và có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Khi đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì Tòa án cấp trên sẽ thụ lý để xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm. Từ những phân tích trên có thể thấy, ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống lập pháp mà nội dung cụ thể của chế định phúc thẩm vụ án dân sự có những điểm khác nhau.
Vậy, về mặt lý luận, khái niệm phúc thẩm vụ án dân sự được hiểu như thế nào? Dưới góc độ ngôn ngữ học, "Phúc thẩm" theo Từ điển Tiếng Việt là "Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án" [10, tr. Theo cách giải thích này thì phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm khi có sự chống án. Dưới góc độ pháp lý, phúc thẩm được giải thích thông qua thuật ngữ kháng án. Trong từ điển luật học Pháp, kháng án (Appel) là một hình thức kháng án theo thông luật nhằm cải sửa hoặc hủy bỏ, theo đó bên kháng án đưa vụ kiện ra trước một Tòa án cấp cao hơn, thậm chí có thể đưa ra trước cùng một Tòa án với một hội đồng xét xử khác [55, tr.
Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, kháng án (appeal) có nghĩa là tất cả các thỉnh cầu tới một cấp thẩm cao hơn (kháng cáo và thượng tố giám đốc thẩm) [47, tr. Qua việc giải thích thuật ngữ kháng án, có thể hiểu phúc thẩm là biện pháp Tòa án cấp cao hơn xem xét lại vụ án đã được giải quyết ở của Tòa án cấp dưới khi có sự chống án (kháng cáo hoặc thượng tố giám đốc thẩm). Ngoài ra, Trong Từ điển Luật học Việt Nam, "phúc thẩm là xét lại vụ án, quyết định đã được Tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm, nhưng chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo hoặc kháng nghị" [53, tr. Như vậy, có thể thấy dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ phúc thẩm cũng được hiểu không hoàn toàn giống nhau.
14 Ở Việt Nam, trong lĩnh vực khoa học pháp lý, khái niệm phúc thẩm vụ án dân sự được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau là "giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc thẩm", "thủ tục xét xử phúc thẩm" và "cấp xét xử phúc thẩm". Dưới góc độ là giai đoạn thì phúc thẩm vụ án dân sự là giai đoạn của quá trình TTDS, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm kiểm tra tính hợp pháp, tính căn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm, khắc phục kịp thời sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước [9, tr. Dưới góc độ là chế định pháp luật thì phúc thẩm vụ án dân sự được hiểu là một hệ thống những qui tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết lại vụ án dân sự trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Dưới góc độ là thủ tục xét xử thì phúc thẩm vụ án dân sự được hiểu là thủ tục xét xử do Tòa án cấp trên trực tiếp tiến hành nhằm xét xử lại vụ án dân sự mà bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Dưới góc độ là một cấp xét xử, phúc thẩm vụ án dân sự là cấp xét xử thứ hai, theo đó Tòa án có thẩm quyền xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm khắc phục kịp thời sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước [9, tr. 15 Như vậy, phúc thẩm vụ án dân sự được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau song tất cả đều coi phúc thẩm vụ án dân sự là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Do đó, phúc thẩm vụ án dân sự có đặc điểm cơ bản sau: - Tính chất của phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. - Căn cứ phát sinh phúc thẩm dựa trên các kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của VKS.
- Đối tượng của phúc thẩm là vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. - Thẩm quyền xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm. - Phạm vi xét xử phúc thẩm phải trong phạm vi nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.