Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự" do sinh viên Tạ Thị Phi Yến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Hoài Trâm tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 6/2022), thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự.

Nguyên tắc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được ghi nhận trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Kháng cáo là quyền tố tụng cơ bản của đương sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, đồng thời là cơ chế kiểm soát tư pháp giúp khắc phục các sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, các quy định về thủ tục kháng cáo, đặc biệt là kháng cáo quá hạn trong BLTTDS năm 2015 vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý: không quy định cụ thể thời hạn kết thúc việc nộp đơn kháng cáo quá hạn, thiếu tiêu chí xác định "lý do chính đáng", thời hạn mở phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn quá ngắn (10 ngày) và mâu thuẫn với quy định về thời hạn niêm yết văn bản tố tụng, đồng thời thiếu quy phạm điều chỉnh hệ quả pháp lý khi đương sự rút đơn hoặc khiếu nại quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về kháng cáo và kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự, phân tích quá trình phát triển của chế định này trong lịch sử lập pháp Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
  2. Khảo sát, phân tích các quy định của BLTTDS năm 2015 về chủ thể, thời hạn, căn cứ và thủ tục mở phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn; đối chiếu với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng hành chính và kinh nghiệm quốc tế (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bang Michigan - Hoa Kỳ).
  3. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua các quyết định giải quyết kháng cáo quá hạn của Tòa án các cấp, chỉ ra sự không thống nhất trong thực tiễn xét xử.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng dân sự về kháng cáo quá hạn.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự và thực tiễn giải quyết đơn kháng cáo quá hạn tại hệ thống Tòa án nhân dân. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành (trọng tâm là BLTTDS năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn áp dụng), kết hợp so sánh đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cùng pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gia. Dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ các quyết định giải quyết kháng cáo quá hạn của Tòa án nhân dân các cấp công bố từ năm 2018 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và nền tảng pháp lý của khóa luận dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật thực định và nguồn tài liệu học thuật:

  • Văn bản pháp luật trong nước: Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân các năm 1960, 1981, 2014; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); BLTTDS năm 2015 (các Điều 182, 183, 270, 271, 272, 273, 274, 275, 276, 479); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 148 về kết thúc thời hạn); Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao; Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (Mẫu số 59, Mẫu số 60).
  • Pháp luật nước ngoài: Điều 540 Bộ luật Tố tụng Dân sự Cộng hòa Pháp; Điều 75, Điều 76, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; Đạo luật Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp của bang Michigan - Hoa Kỳ (MIOSHA).
  • Nguồn tài liệu học thuật: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội; các công trình nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Thuận (2017), Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Trương Thị Diễm My (2021), Lưu Nguyễn Huy Hoàng (2018), Nguyễn Trí Tuyển (2014).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được áp dụng xuyên suốt công trình, đặc biệt tại Chương 1, nhằm bóc tách các khái niệm, quy định pháp luật về thời hạn, chủ thể, điều kiện và thủ tục tố tụng.
  • Phương pháp bình luận: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 để phân tích, đánh giá lập luận pháp lý trong các quyết định thực tế của Hội đồng xét kháng cáo quá hạn thuộc TAND Cấp cao và TAND các tỉnh, thành phố.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của BLTTDS năm 2015 với BLTTHS năm 2015, Luật TTHC năm 2015, đồng thời so sánh với pháp luật của Pháp, Trung Quốc và bang Michigan (Hoa Kỳ) nhằm rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp.

Nguồn dữ liệu thực tiễn gồm các quyết định xét kháng cáo quá hạn được khai thác từ Cổng thông tin điện tử Công bố bản án, quyết định của Tòa án nhân dân Tối cao (congbobanan.vn), tiêu biểu như các quyết định tại Hà Nội, Hải Phòng, Sơn La, Ninh Bình, Bến Tre, Sóc Trăng, Bình Thuận, Phú Yên, Kon Tum, Phú Thọ, Ninh Thuận, Đồng Tháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về quy định kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận, quá trình lập pháp và các yếu tố cấu thành chế định kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự Việt Nam:

  • Khái niệm kháng cáo và kháng cáo quá hạn: Kháng cáo là hành vi tố tụng và là quyền của đương sự hoặc các chủ thể luật định yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Kháng cáo quá hạn là việc thực hiện quyền kháng cáo sau khi thời hạn luật định tại Điều 273 BLTTDS năm 2015 đã chấm dứt (sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc nhận/niêm yết bản án; sau 07 ngày đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ).
  • Lịch sử pháp luật Việt Nam về kháng cáo quá hạn từ năm 1945 đến nay:
    • Giai đoạn 1945 - 1989: Sắc lệnh số 51/1946 ghi nhận quyền kháng cáo nhưng chưa có quy định về kháng cáo quá hạn. Thuật ngữ "chống án" được dùng trong Luật Tổ chức TAND năm 1960.
    • Giai đoạn 1990 - 2004: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 lần đầu tiên ghi nhận kháng cáo quá hạn có lý do chính đáng (khoản 3 Điều 59) và thủ tục Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mà không mở phiên tòa (khoản 1 Điều 66).
    • Giai đoạn 2005 đến nay: BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011) quy định tại Điều 247 và được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP. Đến BLTTDS năm 2015, chế định này được hoàn thiện với các Điều 274, 275, 276.
  • Chủ thể kháng cáo quá hạn: Căn cứ Điều 271 và Điều 272 BLTTDS năm 2015, chủ thể có quyền kháng cáo quá hạn gồm: đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan/tổ chức/cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tác giả phân tích xung đột quan điểm về thủ tục ủy quyền kháng cáo theo khoản 6 Điều 272 giữa quan điểm "ủy quyền tham gia tố tụng toàn quyền" và quan điểm "bắt buộc phải có văn bản ủy quyền riêng nêu rõ nội dung ủy quyền kháng cáo".
  • Thời hạn kháng cáo quá hạn: Pháp luật hiện hành chỉ ấn định thời điểm bắt đầu tính kháng cáo quá hạn mà không quy định thời điểm kết thúc. Tác giả chỉ ra hai quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng thời hạn kháng cáo quá hạn bị giới hạn trước thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật (15 ngày đối với bản án, 03 ngày đối với quyết định kể từ khi hết hạn kháng cáo thông thường); quan điểm thứ hai cho rằng mọi kháng cáo nộp sau thời hạn quy định đều là kháng cáo quá hạn mà không bị giới hạn thời gian kết thúc, dẫn đến nguy cơ đương sự lợi dụng để trì hoãn thi hành án.
  • Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn: Phân tích quy định tại Điều 275 BLTTDS năm 2015 về thành phần Hội đồng (03 Thẩm phán), sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn; thời hạn 10 ngày để mở phiên họp và căn cứ xem xét dựa trên tài liệu, chứng cứ cùng ý kiến tại phiên họp.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quy định kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích các bất cập phát sinh trong thực tiễn giải quyết kháng cáo quá hạn tại Tòa án các cấp và đối chiếu pháp luật so sánh:

  • Thực tiễn áp dụng căn cứ xem xét "lý do chính đáng": Khoản 3 Điều 275 BLTTDS năm 2015 không định nghĩa cụ thể "lý do chính đáng", dẫn đến tình trạng các Hội đồng xét kháng cáo áp dụng không thống nhất hoặc tiếp tục viện dẫn trực tiếp Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP — một văn bản đã hết hiệu lực thi hành theo khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
  • Tổng hợp xung đột trong thực tiễn giải quyết lý do ốm đau/điều trị bệnh:
Quyết định của Tòa án Nội dung vụ việc & Lý do của người kháng cáo Nhận định và Quyết định của Hội đồng xét kháng cáo
Quyết định số 04/2019/QĐ-PT (28/02/2019) - TAND tỉnh Bến Tre Ông Nguyễn Văn T nộp đơn trễ 01 ngày; cung cấp tài liệu chứng minh sức khỏe bất thường, thường xuyên uống thuốc và điều trị tại bệnh viện. Chấp nhận. Hội đồng viện dẫn Điều 6 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP xác định tình trạng bệnh là lý do chính đáng.
Quyết định số 04/2020/QĐ-PT (18/11/2020) - TAND tỉnh Sơn La Bà Nguyễn Thu T bị tăng huyết áp, đau thắt ngực, điều trị ngoại trú tại BVĐK huyện Thuận Châu và có giấy hẹn khám lại tại Bệnh viện K - Hà Nội. Không chấp nhận. Hội đồng nhận định điều trị ngoại trú không thuộc trường hợp bất khả kháng hay trở ngại khách quan.
Quyết định số 08/2018/QĐ-PT (04/06/2018) - TAND tỉnh Sóc Trăng Ông H và bà K nộp đơn trễ 3 tháng; bà K bị đột quỵ, điều trị cấp cứu tại BVĐK tỉnh Sóc Trăng, sau đó điều trị châm cứu tại Chùa X. Chấp nhận. Hội đồng áp dụng Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP, xác định việc vắng mặt tại địa phương để châm cứu là trở ngại khách quan.
Quyết định số 03/2019/QĐ-PT (21/01/2019) - TAND tỉnh Bến Tre Ông Trần Quang T nộp đơn trễ do bị tai nạn xe và phải điều trị ngoại trú tại phòng khám bác sĩ tư nhân. Không chấp nhận. Hội đồng viện dẫn Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP, cho rằng điều trị ngoại trú không đáp ứng điều kiện "điều trị tại bệnh viện".
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế:
    • Bang Michigan (Hoa Kỳ): Quy định người kháng cáo quá hạn phải chứng minh đồng thời hai yếu tố: "lý do chính đáng" (good cause - không do sự bất cẩn, cẩu thả) và "biện hộ xác đáng" (a meritorious defense - dựa trên chứng cứ thực tế).
    • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Điều 76 BLTTDS quy định quyền xin gia hạn trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày trở ngại khách quan được loại bỏ.
    • Cộng hòa Pháp: Điều 540 BLTTDS quy định thẩm phán có quyền khôi phục quyền kháng cáo nếu đương sự không có lỗi, không biết được bản án đúng hạn hoặc rơi vào tình trạng không thể thực hiện quyền kháng cáo.
  • Các vướng mắc khác về trình tự, thủ tục:
    • BLTTDS năm 2015 không quy định thời hạn để Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đơn kháng cáo quá hạn cho Tòa án cấp phúc thẩm (khác với thời hạn 03 ngày tại khoản 2 Điều 335 BLTTHS năm 2015).
    • Thời hạn mở phiên họp 10 ngày là quá ngắn, gây khó khăn cho việc triệu tập và tống đạt hợp lệ theo thời hạn niêm yết tố tụng.
    • Thiếu quy định về thủ tục và thẩm quyền xử lý khi người kháng cáo rút đơn kháng cáo quá hạn trước hoặc tại phiên họp.
    • Thiếu cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể thông qua việc tổng hợp dữ liệu pháp lý và thực tiễn:

  • Phát hiện các điểm nghẽn lập pháp: Chỉ rõ sự thiếu vắng quy định về thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo quá hạn trong BLTTDS năm 2015; xác định tình trạng Tòa án các cấp tùy tiện viện dẫn Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực do thiếu văn bản hướng dẫn mới thay thế.
  • Đánh giá sự bất cập trong thực tiễn: Khảo sát các quyết định thực tế (như Quyết định số 06/2021/QĐ-PT của TAND Cấp cao tại Hà Nội, Quyết định số 15/2020/QĐ-PT của TAND TP. Hà Nội, Quyết định số 01/2021/QĐ-PT của TAND TP. Hải Phòng, Quyết định số 02/2021/QĐ-PT của TAND tỉnh Phú Yên...), chứng minh sự đánh giá cảm tính, thiếu chuẩn mực thống nhất đối với tiêu chí "lý do chính đáng" (đặc biệt trong các trường hợp điều trị ngoại trú, tuổi cao sức yếu, bệnh lý dài ngày).
  • Hệ thống hóa giải pháp hoàn thiện:
    1. Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể Điều 275 BLTTDS năm 2015, định lượng rõ khái niệm "lý do chính đáng", các trường hợp sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan.
    2. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLTTDS: quy định thời hạn kháng cáo quá hạn phải được nộp trong thời hạn nhất định (ví dụ 10 ngày hoặc nộp ngay) kể từ thời điểm sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan chấm dứt; bổ sung thời hạn 03 ngày để Tòa án sơ thẩm chuyển hồ sơ cho Tòa án phúc thẩm.
    3. Bổ sung quy định chi tiết về thủ tục đình chỉ giải quyết khi người kháng cáo rút đơn kháng cáo quá hạn và thiết lập cơ chế khiếu nại đối với quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình chủ yếu phân tích các quy định pháp luật thực định và nguồn dữ liệu gồm các quyết định giải quyết kháng cáo quá hạn được công bố công khai trên Cổng thông tin TAND Tối cao giai đoạn 2018 - 2021; chưa tiếp cận được số liệu thống kê toàn diện của ngành Tòa án về tỷ lệ chấp nhận/bác đơn kháng cáo quá hạn trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế kháng cáo quá hạn trong mối liên hệ với thủ tục tái thẩm, giám đốc thẩm; nghiên cứu sâu về quyền kháng cáo quá hạn của các chủ thể đặc thù (đương sự cư trú ở nước ngoài theo Điều 479 BLTTDS năm 2015, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư và người làm công tác thực tiễn tư pháp.
  • Phần nội dung giá trị: Bảng đối chiếu các quyết định của Tòa án thực tế tại Chương 2; phân tích so sánh pháp luật của Pháp, Trung Quốc, Hoa Kỳ tại Chương 1 và Chương 2; hệ thống hóa lịch sử lập pháp về kháng cáo quá hạn từ năm 1945 đến nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Kháng cáo quá hạn được định nghĩa như thế nào trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015?

Căn cứ khoản 1 Điều 275 BLTTDS năm 2015, kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Về bản chất, đây là việc đương sự nộp đơn kháng cáo sau thời hạn 15 ngày (đối với bản án sơ thẩm) hoặc sau 07 ngày (đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án sơ thẩm) tính từ ngày tuyên án hoặc từ ngày nhận/niêm yết văn bản tố tụng hợp lệ.

2. Thành phần tham gia phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn theo quy định hiện hành gồm những ai?

Theo khoản 2 Điều 275 BLTTDS năm 2015, phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn do Tòa án cấp phúc thẩm tổ chức với Hội đồng gồm 03 Thẩm phán. Phiên họp phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá hạn. Trường hợp Kiểm sát viên hoặc người kháng cáo vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

3. Việc các Tòa án viện dẫn Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP để xét kháng cáo quá hạn hiện nay có vướng mắc pháp lý gì?

Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP được ban hành để hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011). Khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực thi hành, căn cứ khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP đương nhiên hết hiệu lực. Do đó, việc một số Hội đồng xét kháng cáo quá hạn tại Hải Phòng, Bến Tre, Phú Yên... vẫn viện dẫn trực tiếp nghị quyết này trong quyết định là không đúng quy định về áp dụng văn bản pháp luật.

4. Pháp luật tố tụng dân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định như thế nào về kháng cáo quá thời hạn?

Điều 76 BLTTDS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định trường hợp đương sự không thực hiện được thời hạn do nguyên nhân bất khả kháng hoặc lý do chính đáng khác thì có quyền nộp đơn xin gia hạn thời hạn trong vòng 10 ngày kể từ ngày trở ngại bị loại bỏ. Việc gia hạn phải được Tòa án nhân dân chấp thuận.

5. Khoảng trống pháp lý lớn nhất liên quan đến thời hạn kháng cáo quá hạn trong BLTTDS năm 2015 là gì?

BLTTDS năm 2015 chỉ quy định thời điểm bắt đầu để một kháng cáo bị coi là quá hạn (sau khi hết thời hạn quy định tại Điều 273) nhưng không giới hạn thời điểm kết thúc việc nộp đơn kháng cáo quá hạn. Điều này dẫn đến nguy cơ các bản án đã có hiệu lực và đang thi hành trên thực tế vẫn bị khiếu nại bằng đơn kháng cáo quá hạn nhằm mục đích trì hoãn việc thi hành án.

Kết luận

Khóa luận "Kháng cáo quá hạn trong tố tụng dân sự" của tác giả Tạ Thị Phi Yến là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp của chế định kháng cáo quá hạn tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích nhiều quyết định thực tế của Tòa án nhân dân các cấp và đối chiếu pháp luật so sánh, đề tài đã làm rõ các mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý của BLTTDS năm 2015 liên quan đến thời hạn, căn cứ "lý do chính đáng" và trình tự phiên họp. Các giải pháp sửa đổi luật và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng được đề xuất trong công trình có giá trị khoa học và thực tiễn rõ rệt đối với việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự, góp phần bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đương sự.