Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết - chuyển hóa (Bộ Y Tế)

Tài liệu nghiên cứu Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết chuyển hóa phần 1 nxb y học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về y tế.

Trường đại học

Nhà Xuất Bản Y Học

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

tài liệu chuyên môn

2014

173
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: BỆNH TUYẾN YÊN VÀ VÙNG DƯỚI ĐỒI

1.1. U tuyến yên

1.2. Bệnh to đầu chi

1.3. Suy tuyến yên

1.4. Bệnh đái tháo nhạt

1.5. Hội chứng tiết ADH không thích hợp

2. CHƯƠNG 2: BỆNH TUYẾN GIÁP

2.1. Cường chức năng tuyến giáp

2.2. Chẩn đoán và điều trị cơn nhiễm độc hormon giáp cấp

2.3. Suy tuyến giáp bẩm sinh tiên phát

2.4. Suy giáp ở người lớn

2.5. Hôn mê do suy chức năng tuyến giáp

2.6. Bướu giáp đơn thuần

2.7. U tuyến độc của tuyến giáp

2.8. Bướu giáp độc đa nhân

2.9. Viêm tuyến giáp Hashimoto

2.10. Viêm tuyến giáp bán cấp

2.11. Viêm tuyến giáp mủ

2.12. Ung thư tuyến giáp

3. CHƯƠNG 3: BỆNH TUYẾN THƯỢNG THẬN

3.1. Suy thượng thận cấp

3.2. Suy thượng thận mạn tính

3.3. Hội chứng Cushing

3.4. Suy thượng thận do dùng Corticoids

3.5. Cường Aldosteron tiên phát

3.6. Cường chức năng tủy thượng thận

4. CHƯƠNG 4: BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

4.1. Bệnh đái tháo đường

4.2. Phụ lục 1: Các thuốc điều trị ĐTĐ

4.3. Phụ lục 2: Tiêu chuẩn chẩn đoán thừa cân béo phì dựa vào số đo BMI và vòng eo áp dụng cho người Châu Á - TBD

4.4. Phụ lục 3: Liên quan giữa glucose huyết tương trung bình và HbA1c

4.5. Nhiễm toan ceton - hôn mê nhiễm toan ceton do đái tháo đường

4.6. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do đái tháo đường

4.7. Hạ glucose máu

4.8. Bệnh tim mạch và đái tháo đường

4.9. Bệnh mạch vành

4.10. Tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường

4.11. Suy tim

4.12. Đột quị

4.13. Bệnh mạch máu ngoại vi

4.14. Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường

4.15. Bệnh đái tháo đường và thai kỳ

4.16. Đái tháo đường thai kỳ

4.17. Bệnh lý cầu thận trong bệnh đái tháo đường

5. CHƯƠNG 5: BỆNH BÉO PHÌ

5.1. Bệnh béo phì

5.2. Rối loạn chuyển hóa lipid máu

5.3. Tăng calci máu

5.4. Hạ calci máu

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh nội tiết chuyển hóa và chẩn đoán

Bệnh nội tiết chuyển hóa là một lĩnh vực quan trọng trong y học, liên quan đến sự rối loạn của các hormone và quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Việc chẩn đoán chính xác các bệnh này là rất cần thiết để đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả. Tài liệu 'Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết - chuyển hóa' được ban hành bởi Bộ Y tế cung cấp những thông tin cần thiết cho các bác sĩ trong việc nhận diện và điều trị các bệnh lý này.

1.1. Định nghĩa và phân loại bệnh nội tiết

Bệnh nội tiết được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau, bao gồm bệnh tuyến giáp, bệnh tuyến yên, và bệnh tiểu đường. Mỗi loại bệnh có những triệu chứng và phương pháp điều trị riêng biệt.

1.2. Tầm quan trọng của chẩn đoán sớm

Chẩn đoán sớm giúp phát hiện kịp thời các rối loạn nội tiết, từ đó có thể áp dụng các biện pháp điều trị hiệu quả, giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

II. Những thách thức trong chẩn đoán bệnh nội tiết chuyển hóa

Chẩn đoán bệnh nội tiết chuyển hóa gặp nhiều thách thức do triệu chứng không rõ ràng và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Việc thiếu thông tin và kiến thức chuyên môn cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chẩn đoán sai.

2.1. Triệu chứng không điển hình của bệnh

Nhiều bệnh nội tiết có triệu chứng không điển hình, như mệt mỏi, tăng cân hoặc giảm cân không rõ nguyên nhân, khiến cho việc chẩn đoán trở nên khó khăn.

2.2. Thiếu kiến thức chuyên môn trong chẩn đoán

Nhiều bác sĩ chưa được đào tạo đầy đủ về các bệnh nội tiết, dẫn đến việc chẩn đoán không chính xác và điều trị không hiệu quả.

III. Phương pháp chẩn đoán bệnh nội tiết chuyển hóa hiệu quả

Để chẩn đoán bệnh nội tiết chuyển hóa, các bác sĩ cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ xét nghiệm máu đến hình ảnh học. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán.

3.1. Xét nghiệm hormone trong chẩn đoán

Xét nghiệm nồng độ hormone trong máu là phương pháp chính để xác định các rối loạn nội tiết. Các hormone như insulin, cortisol, và hormone tuyến giáp cần được kiểm tra định kỳ.

3.2. Hình ảnh học trong chẩn đoán bệnh

Các phương pháp hình ảnh như MRI và CT scan giúp phát hiện các khối u hoặc bất thường trong tuyến nội tiết, từ đó hỗ trợ cho việc chẩn đoán chính xác hơn.

IV. Giải pháp điều trị bệnh nội tiết chuyển hóa hiệu quả

Điều trị bệnh nội tiết chuyển hóa cần phải được cá nhân hóa dựa trên từng bệnh nhân. Các phương pháp điều trị có thể bao gồm thuốc, phẫu thuật hoặc liệu pháp hormone.

4.1. Sử dụng thuốc điều trị nội tiết

Các loại thuốc như hormone thay thế, thuốc điều chỉnh đường huyết, và thuốc điều trị cường giáp là những phương pháp phổ biến trong điều trị bệnh nội tiết.

4.2. Phẫu thuật trong điều trị bệnh nội tiết

Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể là cần thiết để loại bỏ khối u hoặc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tuyến nội tiết.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong điều trị

Nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp điều trị mới trong bệnh nội tiết chuyển hóa đang được tiến hành. Những kết quả này không chỉ giúp cải thiện chất lượng điều trị mà còn nâng cao hiểu biết về các bệnh lý này.

5.1. Nghiên cứu mới về hormone và bệnh lý

Nhiều nghiên cứu hiện nay đang tập trung vào việc tìm hiểu vai trò của các hormone trong cơ thể và cách chúng ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

5.2. Kết quả điều trị và theo dõi bệnh nhân

Việc theo dõi kết quả điều trị là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị và điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết.

VI. Kết luận và tương lai của bệnh nội tiết chuyển hóa

Bệnh nội tiết chuyển hóa là một lĩnh vực đang phát triển nhanh chóng. Việc nâng cao nhận thức và kiến thức về bệnh lý này sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

6.1. Tương lai của nghiên cứu bệnh nội tiết

Nghiên cứu về bệnh nội tiết sẽ tiếp tục được mở rộng, với hy vọng tìm ra những phương pháp điều trị hiệu quả hơn và an toàn hơn cho bệnh nhân.

6.2. Vai trò của giáo dục trong điều trị bệnh

Giáo dục và đào tạo cho các bác sĩ và nhân viên y tế về bệnh nội tiết là rất cần thiết để nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng triệu chứng dị cảm, đau buốt ở tay, chân.  Đau trong các khớp xương, nhất là vùng cột sống thắt lưng. Tự bản thân người bệnh cũng thấy các xương to ra, nhất là bàn tay, bàn chân, tăng cỡ số giầy hàng năm.  Rối loạn kinh nguyệt là triệu chứng hay gặp ở phụ nữ.

 Mệt mỏi, rối loạn thị giác như sợ ánh sáng, song thị, mất khứu giác, ù tai, chóng mặt. Khám thực thể  Những thay đổi ở bộ mặt của người bệnh to đầu chi là triệu chứng đầu tiên làm người ngoài chú ý: Xương sọ phát triển không đều, xương hàm dưới phát triển mạnh làm cho cằm dô về phía trước (prognathism), góc giữa ngành đứng và ngành ngang của xương hàm dưới rộng ra, hai hàm răng không khớp được vào nhau, hàm răng dưới đưa ra phía trước, xương mũi, xương gò má và cung dưới lông mày phát triển, do vậy hố mắt sâu, rất ít người bệnh to đầu chi có lồi mắt. Tai, lưỡi đều to. Tổ chức phần mềm phát triển song song với sự phát triển của xương mặt làm cho người bệnh to đầu chi có bộ mặt đặc biệt và thường giống nhau.

 Da, lớp mỡ dưới da: Da dày, nhiều nếp nhăn, đặc biệt trên mặt. Có thể có sạm da, da ẩm, nhờn vì tăng tiết các tuyến mồ hôi và tuyến bã. Lỗ chân lông rộng. Ở phụ nữ có khi có triệu chứng mọc nhiều lông (hypertrichosis), lông mọc nhiều ở mặt, cằm, trên môi, trên mu vệ, cẳng tay, cẳng chân; mọc nhiều lông có thể do tăng tiết androgen của thượng thận, hoặc do tác dụng trực tiếp của GH trên các cầu lông.

 Hệ cơ xương:  Cơ: trong giai đoạn đầu có hiện tượng phì đại, tăng trương lực cơ, về sau, càng ngày cơ càng yếu dần do teo đét, thoái hoá tổ chức cơ.  Xương: có những thay đổi về xương như đã tả ở trên. Một số xương khác cũng có hiện tượng phát triển không cân đối như: Xương sống: màng xương phát triển mạnh, đặc biệt ở mặt trước, gù xương ở phần xương sống vùng ngực, và ưỡn (lordosis) ở cột sống thắt lưng. Xương sườn dày và dài ra làm cho lồng ngực có hình thùng, thể tích lồng ngực tăng, ngực dô ra phía trước do xương sườn dô về phía trước nhiều, xương đòn, xương ức dày.

Các xương dài của chi trên và chi dưới cũng dày, đặc biệt điển hình là những thay đổi ở xương bàn tay và bàn chân, bàn tay to, rộng, các ngón tay to, cục mịch hình trụ do màng xương và tổ chức liên kết phát triển, móng tay dài.  Sụn thanh quản và dây thanh âm dày lên, giọng nói của người bệnh thấp và trầm.  Tim mạch: Tim to gặp ở hầu hết các người bệnh bị to đầu chi. Về giai đoạn cuối của bệnh có thoái hoá, xơ hoá mô kẽ ở cơ tim nên có thể đưa đến suy tim.

Huyết áp 17 thay đổi không đặc hiệu, có trường hợp huyết áp cao hoặc có vữa xơ động mạch vành là nguyên nhân đưa đến suy tim.  Phổi: do lồng ngực biến dạng, giảm thông khí phổi do giảm động tác hô hấp của xương sườn. Có thể viêm phế quản, khí thũng phổi.  Gan: gan to nhưng khó sờ thấy vì lấp dưới bờ sườn dày.

 Thận: to, trọng lượng cả hai thận có thể tới 870g. Tiểu cầu thận có thể to gấp hai lần bình thường, các ống thận to hơn bình thường. Chức năng thận cũng thay đổi rõ ràng. Ở những người bệnh nghiên cứu của Gershberg, độ thanh thải inulin tăng tới 325ml/phút (bình thường 131ml/phút).

Chức năng tái hấp thu của thận đối với glucose cũng tăng tới 1068 mg/phút (bình thường 385 mg/phút). Chức năng bài tiết của ống thận đối với paraaminohippurat cũng tăng tới 165mg/phút (bình thường 76mg/phút), GH cũng làm tăng tái hấp thu ở ống thận đối với phosphat và làm tăng phosphat trong máu vừa phải. Các tuyến nội tiết  Tuyến giáp có thể to hơn bình thường, bướu cổ lan toả gặp ở 25%. Ở giai đoạn đầu, khoảng 5% có cường chức năng giáp, hầu như không gặp tình trạng suy giáp.

Về sau suy giáp thường kết hợp với suy chức năng thượng thận.  Tuyến cận giáp: to hơn bình thường, có thể có các adenom trong tuyến.  Có thể chảy sữa bệnh lý ở phụ nữ, vú to ở nam giới. Chảy sữa bệnh lý do:  Prolactin và GH có cấu trúc hoá học giống nhau.

 Hoặc khối u vừa tiết ra GH và prolactin.  Ức chế tiết PIH (prolactin inhibiting hormone).  Tuyến tụy nội tiết: rối loạn dung nạp glucose gặp ở 50% người bệnh to đầu chi; nhưng đái tháo đường lâm sàng chỉ gặp ở 10%. Thường có hiện tượng kháng insulin, ngay cả những người bệnh bị bệnh này dung nạp với glucose bình thường cũng có hiện tượng kháng insulin.

Biến chứng của các mạch máu nhỏ (microangiopathia) rất ít gặp ở những người bệnh bị đái tháo đường do bệnh to đầu chi.  Tuyến thượng thận: mặc dầu trọng lượng tuyến có tăng, nhưng chức năng tuyến ít thay đổi. Một số người bệnh có hiện tượng tăng tiết androgen của thượng thận, biểu hiện trên lâm sàng bằng hiện tượng rậm lông, tăng 17-cetosteroid niệu. Giai đoạn cuối của bệnh, có thể có suy chức năng thượng thận vì tuyến yên tiết không đủ ACTH.

 Tuyến sinh dục: các triệu chứng rối loạn chức năng tuyến sinh dục thường sớm, ở phụ nữ có rối loạn kinh nguyệt, ở nam giới thời gian đầu của bệnh thường tăng dục tính, cường dương; giai đoạn cuối: liệt dương, mất dục tính. Người bệnh nữ bị to đầu chi rất ít khi có thai ngay cả khi kinh nguyệt chưa rối loạn. Ở nam giới, số lượng và khả năng di động của tinh trùng giảm yếu, sinh thiết tinh hoàn có hiện tượng thiểu sản cơ quan tạo tinh trùng.  Công thức máu bình thường, có thể tăng bạch cầu ái toan, bạch cầu đơn nhân.

Cận lâm sàng 2. X quang xương  Xương sọ và hố yên: thường thấy hố yên rộng hình quả bóng, hố yên phát triển theo chiều sâu và dài theo chiều dọc, nên lỗ và hố yên không dãn rộng. Đáy hố yên thường có hai bờ không đồng đều, lưng yên mỏng, mỏm bướm bị ăn mòn (nên nhọn), mỏm bướm trước dài ra. Xoang trán phát triển mạnh, bờ trên hố mắt dô ra phía trước, xương hàm trên dãn rất rộng, xương gò má to ra nên vùng xương gò má dô ra về phía trước.

Xương chũm nhiều hơi, lồi chẩm ngoài thường có gai xương, khung xương sọ nói chung dày.  Cột sống: phim chụp nghiêng thường thấy mất ta-luy ở phần lưng của thân đốt sống ngực, có hai hoặc nhiều viền, chứng tỏ có hiện tượng chồng lớp xương mới lên trên lớp xương cũ. Có nhiều mỏ xương, tổn thương khớp sau đốt sống, cốt hoá sớm sụn sườn.  Bàn chân và bàn tay dày, to, nhất là các xương ngón.

Các xương dài của tay, chân to ra, đặc biệt các sụn đầu xương. Chỗ dính của cơ và dây chằng lồi, gồ ghề. Định lượng nồng độ GH và IGF-1  Nếu nồng độ GH < 0,4mcg/l và nồng độ IGF-1 trong giới hạn bình thường (điều chỉnh theo tuổi và giới) loại trừ chẩn đoán acromegaly.  Nếu các xét nghiệm trên bất thường, tiến hành làm nghiệm pháp dung nạp glucose 2 giờ đường uống như sau:  Lấy máu xét nghiệm glucose và GH khi đói (baseline).

 Cho người bệnh uống 75g glucose.  Lấy máu định lượng glucose và GH 30 phút một lần, trong 2 giờ liền. Nếu nồng độ GH giảm xuống < 1mcg/L trong quá trình làm nghiệm pháp, loại trừ chẩn đoán acromegaly. Dương tính giả có thể xẩy ra ở người bệnh đái tháo đường, viêm gan mạn tính, suy thận và biếng ăn (anorexia).

Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) đầu, có hoặc không thuốc cản quang gadolinium để đánh giá khối u. ĐIỀU TRỊ  Người bệnh Acromegaly thường chết sớm (nguy cơ tương đối gấp 1,5 lần) vì tăng tỷ lệ mắc hàng năm kháng insulin, phì đại thất trái, và chết do các bệnh tim mạch. Acromegaly hình như liên quan đến tăng nguy cơ sinh bệnh ung thư đại tràng, do vậy nên soi đại tràng cho tất cả các người bệnh này. Mục tiêu điều trị  Nhiều nghiên cứu cho thấy, giảm nồng độ GH sẽ cải thiện thời gian sống còn của người bệnh.

Có thể nội khoa, phẫu thuật, và/hoặc phóng xạ. 19  Mục đích của điều trị là nồng độ GH < 2mcg/L, hoặc IGF-1 ở giới hạn bình thường khi hiệu chỉnh với tuổi và giới. Phẫu thuật  Làm giảm nhanh nhất nồng độ GH, tuy nhiên kết quả điều trị phụ thuộc vào: kích thước khối u, kinh nghiệm của phẫu thuật viên.  Phẫu thuật là chỉ định thích hợp nhất cho microadenomas, là phương pháp điều trị cho 90% người bệnh.

Kết quả đối với macroadenomas thất vọng hơn, <50% người bệnh chỉ được điều trị bằng phẫu thuật. Điều trị bằng thuốc  Somatostatin analogs như Octreotide (Sandostatin) và Lanreotide (Somatuline) là những thuốc có tác dụng tốt hơn để điều trị Acromegaly. Chúng tác dụng như là agonist trên receptor của somatostatin ở khối u và kìm hãm IGF-1 tới 50% người bệnh. Liều khởi đầu có thể từ 2,5mg x 2lần/ngày; dựa trên nồng độ GH và IGF-1 của người bệnh; thuốc có thể được tiêm tác dụng kéo dài hàng tháng.

 Dopamin agonists: Bromocriptine (Parlodel) và Cabergoline (Dostinex) ức chế tiết GH bằng cách kích thích receptors dopaminergic trên khối u. Bromocriptine có hiệu quả <20% người bệnh Acromegaly, Cabergoline hình như có kết quả tốt hơn. Liều khởi đầu thấp để tránh nôn.  Pegvisomant (Somavert) ức chế tác động của GH trên tổ chức ngoại vi bởi sự giống nhau với receptor GH, bình thường được nồng độ IGF-1 ở 89% người bệnh, tuy nhiên, tăng có ý nghĩa nồng độ GH cũng đã gặp.

Sự tăng này không được chứng minh do tăng kích thước khối u, tuy nhiên, 2 người bệnh đã cần phải phẫu thuật do tuyến yên to ra nhanh khi điều trị bằng Pegvisomant. Theo dõi chức năng gan 6 tháng một lần vì đã có thông báo về tăng enzym gan AC. Điều trị bằng tia xạ Cả điều trị bằng phóng xạ từng phần truyền thống và Stereotactic Radiotherapy (Gamma-Knife) đều đã được áp dụng để điều trị u tuyến yên, trong đó có u tiết GH. Đáp ứng đầy đủ đối với điều trị bằng phóng xạ từng phần có thể không đạt được trong 15 năm, điều trị bằng dao gamma hình như bình thường được nồng độ GH nhanh hơn, cùng với ít tổn thương tổ chức não xung quanh hơn.

Điều trị bằng dao gamma bị hạn chế bởi kích thước khối u và khối u nằm gần thần kinh thị giác. Có tới 60% người bệnh bị suy chức năng tuyến yên sau điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ