Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN NÔNG – LÂM NGHIỆP GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO 1. Một số khía cạnh lý luận về hợp tác và hợp tác nông lâm nghiệp 1. Một số khái niệm chủ yếu về hợp tác kinh tế quốc tế + Quốc tế hóa Quốc tế hóa đời sống kinh tế là một quá trình diễn ra từ khi các quan hệ kinh tế vượt ra ngoài biên giới các quốc gia. Quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế do sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động quốc tế quyết định.
Lực lượng sản xuất phát triển làm cho sản xuất và tiêu dùng của các nước mang tính quốc tế, quan hệ kinh tế giữa các nước ngày càng được mở rộng và tăng cường. Cùng với các hoạt động đó, các quan hệ hợp tác kinh tế, trao đổi và chuyển giao công nghệ giữa các nước cũng phát triển song song. Ở giai đoạn đầu, lực lượng sản xuất mới phát triển, phân công lao động quốc tế còn sơ khai, chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của từng nước có các điều kiện thiên nhiên thuận lợi (đất đai, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất hay trên mặt đất…). Tiếp theo đó, phân công lao động quốc tế phát triển gắn với chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất trên địa bàn từng quốc gia và giữa các nước.
Lợi thế so sánh không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên mà còn được chi phối bởi nhiều điều kiện khác, trong đó quyết định nhất là sự phát triển về trình độ công nghệ, kỹ thuật tay nghề trong sản xuất. Nhờ đó, nâng cao được năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm và tạo được lợi thế cạnh tranh. Qua nghiên cứu quá trình quốc tế hóa kinh tế các nước, ta có thể rút ra mấy nhận xét sau: 9 - Quốc tế hóa đời sống kinh tế là một xu thế khách quan đối với tất cả các quốc gia, là qui luật phát triển kinh tế của cả thế giới. - Quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế gắn chặt sự phát triển về kinh tế của từng quốc gia với các nước và các quan hệ quốc tế.
Các nước tham gia vào xu hướng đó đều phát triển nhưng với tốc độ khác nhau. Trong quá trình đó sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và đây là một tất yếu khách quan. - Các quốc gia nào lợi dụng được lợi ích của phân công lao động quốc tế (dựa trên lợi thế so sánh, phát triển khoa học-công nghệ) đều có thể nhanh chóng phát triển lên ngang trình độ thế giới và được đứng vào hàng các nước công nghiệp phát triển giàu mạnh. Còn nước nào không biết tận dụng lợi ích của sự phân công và hợp tác quốc tế thì khó vượt qua được tình trạng lạc hậu, kém phát triển.
Quốc tế hóa đời sống kinh tế, phân công lao động là tiền đề cơ bản của sự ra đời kinh tế thế giới và thị trường thế giới. Quá trình này phát triển dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại đã thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa kinh tế. Như vậy, “Xu thế toàn cầu hóa xuất hiện và phát triển như một tất yếu khách quan dưới tác động của những biến đổi trong nền sản xuất của loài người. Nó được thúc đẩy bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự tác động mạnh mẽ của khoa học – công nghệ” [14 ;tr.
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, tranh thủ được thời gian, giảm đươc những chi phí không cần thiết, mở ra khả năng mới trong việc khám phá các bí mật của tự nhiên, xã hội, tạo ra những phương tiện hiện đại để các quốc gia xích lại gần nhau; đồng thời cũng đòi hỏi phải nâng mối quan hệ giữa các quốc gia lên trình độ mới, trình độ liên kết, trước hết là liên kết về kinh tế với những biến đổi trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối. Quá trình đó tất yếu sẽ tác động đến lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội. 10 Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu thì : “Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là những thành tựu cách mạng thông tin đã đưa kinh tế thế giới bước vào một giai đoạn mới là nền kinh tế tri thức. Tri thức và thông tin đã mở ra khả năng mới làm cho hoạt động kinh tế vượt biên giới quốc gia, thúc đẩy mạnh mẽ xu thế toàn cầu hóa.14] Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng tăng với nhiều biểu hiện quan trọng, nhất là: - Tính quốc tế hóa, toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới được nâng cao bởi vai trò ngày càng lớn của các công ty xuyên quốc gia.
Lịch sử của các công ty xuyên quốc gia gắn liền với quá trình quốc tế hóa sản xuất, nhưng quy mô, vai trò của nó hiện nay được nâng cao cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế. - Thương mại, sự tăng lên mạnh mẽ về quy mô, nhịp độ của thương mại quốc tế đã nhanh chóng mở rộng thị trường về bề rộng và bề sâu. - Sự lưu chuyển luồng vốn quốc tế tăng với nhịp độ nhanh, quy mô lớn. Đây là một đặc trưng nổi bật của kinh tế thế giới ngày nay.
- Cùng với quá trình tự do hóa thương mại, tài chính và chuyên môn hóa sản xuất, quá trình tự do hóa về di chuyển lao động từng bước phát triển. Tình hình đó đã góp phần phân bổ lực lượng lao động giữa các quốc gia và khu vực. Loài người đang xích lại gần nhau, biên giới ngăn cách các quốc gia đang bị xóa nhòa, sự giao lưu quốc tế đang phát triển, những hình thức tổ chức chung mang tính quốc tế về sản xuất, lưu thông, về văn hóa, chính trị xã hội đang được đẩy mạnh; các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với mức độ và chiều hướng khác nhau. Đó là một xu hướng không thể đảo ngược được trong thời đại ngày nay.
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, mỗi nước có thể sử dụng được lợi thế của mình và tìm thấy lợi ích trong mối quan hệ đó. 11 + Hợp tác kinh tế quốc tế Hợp tác (Cooperation) đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc. Cho đến khi quốc gia và dân tộc hình thành, tức là xuất hiện chủ thể quan hệ quốc tế (QHQT), hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế là một hiện tượng hằng xuyên của lịch sử.
Nó tồn tại trong mọi giai đoạn lịch sử bất chấp thế giới đầy rẫy xung đột và chiến tranh. Cho đến nay, hợp tác quốc tế đã trở thành xu thế lớn trong QHQT và lôi cuốn mọi quốc gia và con người khắp nơi trên thế giới cùng tham gia. Hợp tác quốc tế là một hình thức tương tác trong QHQT. Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hoà bình giữa các chủ thể QHQT, tức là trong đó bạo lực được loại ra.
Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp rất đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực. Về mặt kết quả, sự hợp tác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác, tức là hoặc cùng được, hoặc cùng không thoả mãn. Hợp tác thường có mẫu hình “win-win”, tức là cả hai bên cùng được.
Mẫu hình này ngược với mẫu hình xung đột “win-lose”, tức là cái được của bên này là cái mất của bên kia. Điều này cho thấy hợp tác cũng là một tính chất trong QHQT. Tính chất này ngược với tính chất xung đột. Dựa vào các đặc trưng mang tính bản chất nói trên, có thể đưa ra khái niệm chung về hợp tác quốc tế như sau: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hoà bình giữa các chủ thể QHQT nhằm thực hiện các mục đích chung.” Hợp tác kinh tế quốc tế nằm trong hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia.
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực đa dạng và phong phú của nền kinh tế quốc dân, thể hiện phần tham gia của nền kinh tế của mỗi nước vào sự phân công lao động quốc tế, sự trao đổi mậu dịch quốc tế. Lĩnh vực kinh tế đối ngoại được hình thành trên cơ sở sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế 12 đối ngoại. Các mối quan hệ kinh tế đối ngoại là một bộ phận của các mối quan hệ kinh tế quốc tế với chủ thể là một quốc gia nhất định trong mối quan hệ với các quốc gia còn lại khác và với các tổ chức kinh tế quốc tế. Hợp tác kinh tế quốc tế là hợp tác giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm trao đổi và phát triển lực lượng sản xuất, các nguồn lực vượt ra ngoài biên giới mỗi quốc gia, tham gia vào việc phân công lao động quốc tế và trao đổi thương mại quốc tế.
Ban đầu các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia xuất hiện trên cơ sở sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và chủ yếu họ cung cấp cho nhau những nguyên liệu, những sản phẩm đặc thù do các điều kiện về khoáng sản, đất đai, khí hậu mang lại. Song quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động đã làm nảy sinh những khác biệt về trình độ công nghệ và kỹ thuật, sự chênh lệch về năng suất lao động và giá thành sản phẩm, đã làm xuất hiện lợi thế mới của mỗi quốc gia. Điều đó cho phép và đòi hỏi mỗi nền kinh tế quốc gia phải phát huy triệt để lợi thế của mình trong sự phân công lao động quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế: sản xuất ra nhiều hàng hóa có chất lượng cao và giá thành hạ trên cơ sở tận dụng được các nguồn lực sẵn có của mình và kết hợp với nguồn lực sẵn có của các quốc gia khác. + Đầu tư quốc tế và hợp tác sản xuất - Hợp tác đầu tư nước ngoài là việc nhận hoặc đưa vốn ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh với hai hình thức: 1) Đầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư được thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ.