Tổng quan nghiên cứu

Hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học là xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong 15 năm đầu thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã thu hút hơn 100 dự án giáo dục quốc tế với tổng kinh phí gần 600 triệu USD, tạo đòn bẩy quan trọng cho sự chuyển mình của hệ thống giáo dục đại học. Trong bối cảnh ngành giao thông vận tải đóng vai trò huyết mạch của nền kinh tế và là một trong ba khâu đột phá chiến lược, Trường Đại học Giao thông Vận tải đã chủ động thành lập Phòng Đối ngoại vào tháng 10/1994, mở ra giai đoạn phát triển quan hệ quốc tế bài bản và chuyên nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng, cơ chế vận hành và hiệu quả của các hoạt động hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn chuyển đổi 1994–2013. Mục tiêu cụ thể bao gồm: phân tích các nhân tố tác động; đánh giá toàn diện các chương trình liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ; từ đó xác định điểm nghẽn và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả đối ngoại cho giai đoạn tiếp theo.

Phạm vi không gian tập trung tại Trường Đại học Giao thông Vận tải và mạng lưới đối tác tại các quốc gia như Pháp, Đức, Nhật Bản, Anh, Trung Quốc, Lào. Phạm vi thời gian kéo dài trọn vẹn 20 năm từ năm 1994 đến năm 2013. Ý nghĩa nghiên cứu được định lượng qua việc đóng góp vào sự phát triển của một cơ sở đào tạo trọng điểm với quy mô hơn 32.000 sinh viên, hơn 2.000 học viên cao học và đội ngũ 781 giảng viên, trong đó có 50 giáo sư, 52 phó giáo sư và 151 tiến sĩ tính đến năm học 2012–2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Chủ nghĩa tự do mới trong Quan hệ quốc tế (Neoliberal Institutionalism) làm nền tảng tư tưởng chủ đạo. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của các thể chế, tổ chức quốc tế và mạng lưới hợp tác đa phương trong việc thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau cùng có lợi, giảm thiểu chi phí giao dịch và gia tăng lòng tin giữa các chủ thể học thuật.

Bên cạnh đó, luận văn kết hợp Lý thuyết Quốc tế hóa giáo dục đại học (Internationalization of Higher Education) để phân tích hai nhánh hoạt động cốt lõi: quốc tế hóa tại chỗ (nâng cấp chương trình giảng dạy, mời chuyên gia nước ngoài, đổi mới giáo trình) và quốc tế hóa xuyên biên giới (trao đổi lưu học sinh, liên kết đào tạo cấp bằng, nghiên cứu liên quốc gia). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Hợp tác quốc tế đại học, Chuyển giao tri thức khoa học - công nghệ, Ngoại giao học thuật và Quản lý dự án liên kết giáo dục. Mô hình nghiên cứu tiếp cận đa cấp độ: cấp độ toàn cầu (xu thế toàn cầu hóa, gia nhập WTO), cấp độ quốc gia (chính sách đối ngoại mở rộng, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP) và cấp độ thể chế cơ sở (năng lực tổ chức của Trường Đại học Giao thông Vận tải).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú từ hệ thống lưu trữ 20 năm của Phòng Đối ngoại, Trung tâm Đào tạo Quốc tế, các văn kiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vận tải, cùng dữ liệu khảo sát sơ cấp.

Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 25 chuyên gia và cán bộ quản lý then chốt, bao gồm đại diện Ban Giám hiệu, lãnh đạo Phòng Đối ngoại, các chủ nhiệm đề tài quốc tế và giảng viên phụ trách chương trình liên kết. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (Purposive Sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận đúng những nhân sự am hiểu sâu sắc quy trình đối ngoại và thực tiễn hợp tác kỹ thuật.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp định tính kết hợp phỏng vấn sâu là nhằm mổ xẻ tường tận các cơ chế quản lý, đánh giá thực chất tính bền vững của các dự án và làm rõ các rào cản hành chính vốn khó đo lường bằng phương pháp định lượng đơn thuần. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục qua các giai đoạn thu thập tư liệu, phỏng vấn thực địa và xử lý đối chiếu số liệu từ năm 2012 đến cuối năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hợp tác đào tạo và trao đổi học thuật đạt bước chuyển biến vượt bậc về chất lượng. Điển hình là Dự án Chương trình đào tạo tiên tiến ngành Xây dựng công trình giao thông hợp tác với Đại học Leeds (Anh Quốc) thu hút 265 sinh viên, trong đó riêng năm học 2012–2013 đã có 99 kỹ sư tốt nghiệp. Dự án đào tạo tiến sĩ hai giai đoạn với Đại học Kỹ thuật Darmstadt (Đức) đã cử 8 giảng viên đi nghiên cứu, trong đó 6 tiến sĩ đã hoàn thành xuất sắc và trở về trường công tác. Chương trình du học tự túc với Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) gửi gần 500 lưu học sinh (gồm 9 nghiên cứu sinh, 40 thạc sĩ), trong khi chương trình tiền du học Pháp đã chuyển tiếp thành công gần 200 sinh viên sang các trường đại học đối tác danh tiếng của Pháp.

Thứ hai, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn kết chặt chẽ với các dự án hạ tầng quốc gia. Trong giai đoạn 2005–2008, trường hoàn thành 5 đề tài nghiên cứu quốc tế với Công ty CTI (Nhật Bản) trị giá 280 triệu đồng. Các dự án quy mô lớn như quan trắc cầu Bãi Cháy hợp tác với Viện Công nghệ Shimizu (Nhật Bản) năm 2008 hay gói thầu xây dựng bộ tiêu chuẩn đường sắt đô thị phối hợp với Hiệp hội JARTS (Nhật Bản) giai đoạn 2007–2008 đã đóng góp trực tiếp vào quy chuẩn kỹ thuật giao thông của hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ ba, việc mở rộng mạng lưới đa phương giúp tối ưu hóa nguồn lực tài trợ. Gia nhập Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF) từ năm 1996 đã mang lại gần 100 suất học bổng sinh viên và 30 suất cho giảng viên. Trở thành thành viên chính thức của Mạng lưới các trường Đại học Á - Âu (ASEA-UNINET) năm 2011 giúp trường thụ hưởng các dự án do Ủy ban Châu Âu tài trợ với mức tài trợ học bổng từ 1.000 đến 2.500 euro/tháng. Nguồn học bổng từ các doanh nghiệp quốc tế như Toyota, Nippon, KOVA đạt trung bình 60 triệu đồng/năm, đỉnh điểm lên tới 150 triệu đồng/năm, chiếm gần 60% tổng giá trị học bổng toàn trường.

Thứ tư, công tác tổ chức hội nghị và kết nối chuyên gia tạo lập uy tín vững chắc. Trường đã đồng tổ chức hơn 70 hội thảo quốc tế lớn nhỏ, tiếp nhận 32 lượt giáo viên tình nguyện từ dự án GAP (Anh Quốc) giai đoạn 1999–2007 và duy trì bình quân 20 lượt cán bộ, giảng viên tham gia trao đổi chuyên môn tại nước ngoài mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Thành công của giai đoạn 1994–2013 xuất phát từ quyết định chiến lược khi thành lập Phòng Đối ngoại vào tháng 10/1994, giúp chuyên nghiệp hóa các hoạt động đối ngoại vốn trước đó còn thụ động trong khuôn khổ Nghị định thư nhà nước cũ. Tuy nhiên, dữ liệu bộc lộ hạn chế lớn về tính đối xứng: hoạt động trao đổi sinh viên chủ yếu diễn ra một chiều khi trường đón hàng chục sinh viên từ Pháp, Đức, Nhật Bản sang thực tập, nhưng sinh viên Việt Nam đi giao lưu văn hóa ngắn hạn ra nước ngoài còn rất ít do rào cản chi phí tự túc.

Kết quả này tương đồng với nhận định trong các công trình nghiên cứu quản trị giáo dục đại học tại Việt Nam, khẳng định các rào cản về cơ chế tự chủ tài chính và ngoại ngữ là nút thắt phổ biến cản trở sự bền vững của các dự án quốc tế.

Về mặt trực quan hóa, dữ liệu hợp tác của trường có thể được biểu diễn trực quan qua Biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng số lượng dự án đào tạo từ năm 1995 đến 2013 và Biểu đồ tròn phân bố đối tác theo quốc gia, trong đó các đối tác Pháp, Đức, Nhật Bản chiếm tỷ trọng chi phối trên 75%. Bên cạnh đó, Bảng tổng hợp các dự án ODA và Sơ đồ phân cấp quản lý đối ngoại giúp phản ánh rõ nét mối liên kết giữa Ban Giám hiệu, Phòng Đối ngoại và các đơn vị nghiên cứu chuyên môn.

Đề xuất và khuyến nghị

Xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế giai đoạn dài hạn 2015–2025: Ban Giám hiệu chủ trì phối hợp với Phòng Đối ngoại xác định các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như đường sắt tốc độ cao, quy hoạch giao thông thông minh (ITS) và vật liệu xanh; đặt mục tiêu tăng tỷ trọng các dự án nghiên cứu khoa học có đối tác quốc tế lên mức 30% tổng số đề tài toàn trường.

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy nội bộ và phân cấp quản lý: Phòng Đối ngoại phối hợp với các Khoa, Viện ban hành quy chế quản lý đề tài quốc tế trước năm 2016; cắt giảm 20% thời gian xử lý thủ tục phê duyệt đoàn ra, đoàn vào; trao quyền chủ động tài chính và liên hệ chuyên môn cho cấp bộ môn để gia tăng tính linh hoạt.

Nâng cao năng lực ngoại ngữ và phương pháp nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ: Ban Giám hiệu cùng Trung tâm Đào tạo Quốc tế triển khai kế hoạch bồi dưỡng định kỳ, hướng tới mục tiêu 100% giảng viên tham gia giảng dạy các chương trình tiên tiến đạt trình độ tiếng Anh từ C1 hoặc chứng chỉ tiếng Pháp DELF B2/TCF 400 trở lên trước năm 2020; tăng chỉ tiêu cán bộ đi thực tập ngắn hạn lên 35 lượt/năm.

Đa dạng hóa nguồn tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa: Phòng Đối ngoại chủ động liên kết với các tập đoàn đa quốc gia và các tổng công ty xây dựng công trình giao thông để gia tăng quy mô quỹ học bổng doanh nghiệp thêm 50% vào năm 2018; đồng thời khai thác tối đa nguồn kinh phí tài trợ nghiên cứu từ các tổ chức quốc tế như ASEA-UNINET, AUF và các chương trình ODA của Nhật Bản, Liên minh Châu Âu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà quản lý giáo dục và lãnh đạo các trường đại học khối kỹ thuật: Luận văn cung cấp mô hình thực tiễn về việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức đối ngoại, kinh nghiệm vận hành chương trình tiên tiến và phương pháp tối ưu hóa nguồn viện trợ giáo dục.

Cán bộ chuyên trách phòng Hợp tác Quốc tế và Quản lý Khoa học: Tài liệu mang lại hệ thống bài học thực chứng về quy trình xây dựng dự án đào tạo tiến sĩ liên kết, đàm phán thỏa thuận trao đổi lưu học sinh và thủ tục quản lý đoàn chuyên gia quốc tế.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quan hệ Quốc tế: Luận văn là công trình tham khảo giá trị về phương pháp luận ứng dụng lý thuyết chủ nghĩa tự do mới vào lĩnh vực ngoại giao học thuật và phân tích chính sách công.

Các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp công trình giao thông nước ngoài: Tài liệu giúp các nhà đầu tư và đối tác phát triển thấu hiểu năng lực tiếp nhận công nghệ, cơ cấu tổ chức học thuật và nhu cầu nhân lực chất lượng cao của thị trường giao thông vận tải Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Việc thành lập Phòng Đối ngoại năm 1994 có ý nghĩa then chốt như thế nào đối với Trường Đại học Giao thông Vận tải? Sự kiện tháng 10/1994 đánh dấu bước chuyển từ hợp tác bị động theo hiệp định liên chính phủ sang giai đoạn chủ động hội nhập đa phương. Phòng Đối ngoại đóng vai trò đầu mối thiết lập quan hệ trực tiếp với hơn 50 đối tác toàn cầu, mở đường cho các dự án đào tạo và nghiên cứu kỹ thuật quy mô lớn.

Mô hình đào tạo liên kết quốc tế nào đạt hiệu quả rõ nét nhất trong giai đoạn 1994–2013? Chương trình đào tạo tiên tiến liên kết với Đại học Leeds (Anh Quốc) là mô hình tiêu biểu nhất, đào tạo 265 sinh viên hoàn toàn bằng tiếng Anh và tốt nghiệp 99 kỹ sư chất lượng cao trong năm học 2012–2013, đáp ứng trực tiếp tiêu chuẩn hành nghề quốc tế.

Đâu là rào cản lớn nhất trong hoạt động trao đổi sinh viên quốc tế tại trường? Rào cản lớn nhất là kinh phí tự túc và chi phí sinh hoạt đắt đỏ tại các quốc gia phát triển, khiến việc gửi sinh viên Việt Nam ra nước ngoài giao lưu ngắn hạn còn hạn chế, dẫn đến tình trạng trao đổi sinh viên chủ yếu diễn ra một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam.

Hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế đóng góp gì cho các công trình hạ tầng thực tế? Các chương trình hợp tác đã giải quyết trực tiếp các bài toán kỹ thuật lớn, tiêu biểu như dự án quan trắc cầu Bãi Cháy với Viện Công nghệ Shimizu và dự án xây dựng bộ quy chuẩn kỹ thuật đường sắt đô thị hợp tác với tổ chức JARTS của Nhật Bản.

Luận văn tiếp cận vấn đề hợp tác quốc tế đại học dưới góc độ lý thuyết nào? Công trình vận dụng lý thuyết Chủ nghĩa tự do mới trong Quan hệ quốc tế kết hợp cùng lý thuyết Quốc tế hóa giáo dục đại học, phân tích tác động của các thể chế học thuật đa phương đối với việc nâng cao năng lực nội sinh của một trường đại học kỹ thuật.

Kết luận

Hợp tác quốc tế trong giai đoạn 1994–2013 đã khẳng định vai trò là một trong ba giải pháp đột phá chiến lược, đưa Trường Đại học Giao thông Vận tải hội nhập sâu rộng vào không gian giáo dục toàn cầu. Việc thiết lập các liên kết đào tạo tiên tiến với các trường đại học hàng đầu tại Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc đã chuẩn hóa nội dung giảng dạy và đào tạo hàng trăm kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ đạt chuẩn quốc tế. Hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn liền với các đối tác Nhật Bản, Đức đã đóng góp thiết thực vào quy chuẩn xây dựng hạ tầng và quản lý giao thông đô thị tại Việt Nam. Khai thác hiệu quả các mạng lưới đa phương như AUF và ASEA-UNINET giúp trường nâng cao tiềm lực tài chính, phát triển đội ngũ giảng viên và gia tăng học bổng cho người học. Công trình là nguồn tư liệu học thuật giá trị, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để các cơ sở giáo dục đại học hoàn thiện chiến lược đối ngoại trong kỷ nguyên mới; các đơn vị nghiên cứu và quản lý giáo dục hãy khai thác ngay nguồn tri thức thực tiễn này để hoạch định chính sách hội nhập bền vững.