Tổng quan nghiên cứu
Thực tiễn phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, đặt giáo dục đại học vào vị trí quốc sách hàng đầu. Tính đến năm 2014, quy mô mạng lưới giáo dục đại học Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng với hơn 412 trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc, tăng đáng kể so với con số 376 trường vào năm 2009. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng chưa đi liền với sự bứt phá về chất lượng khi chưa có trường đại học nào của Việt Nam lọt vào top 150 trường hàng đầu châu Á trên bảng xếp hạng quốc tế.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư giáo dục đại học. Sự giao thoa phức tạp giữa pháp luật đầu tư và pháp luật giáo dục chuyên ngành tạo nên nhiều khoảng trống pháp lý, đặc biệt là các quy định về hình thức đầu tư, điều kiện gia nhập thị trường và cơ chế vận hành của các cơ sở giáo dục đại học tư thục phi lợi nhuận. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ toàn diện những vấn đề lý luận nền tảng, đánh giá khách quan thực trạng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư giáo dục đại học tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2014, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế đồng bộ.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để tháo gỡ rào cản huy động vốn xã hội hóa, thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời tạo hành lang pháp lý an toàn nhằm nâng cao chỉ số cạnh tranh học thuật của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn tiếp cận hoạt động đầu tư giáo dục đại học dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết kinh tế học chính trị và lý thuyết quản trị công hiện đại. Theo quan điểm kinh tế học, sản phẩm giáo dục đại học mang bản chất của một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, trong đó lao động giảng dạy là lao động phi sản xuất nhưng trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn vốn nhân lực cho xã hội. Lý thuyết phúc lợi xã hội khẳng định giáo dục đại học vừa thực hiện chức năng dịch vụ vừa mang tính phúc lợi, vì lợi ích xã hội thu được luôn vượt trội so với lợi ích kinh tế thuần túy của cá nhân nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết điều tiết nhà nước trong kinh tế thị trường nhằm làm rõ vai trò của khung pháp luật như một công cụ thiết lập sân chơi bình đẳng, khắc phục các thất bại thị trường và phòng ngừa rủi ro thương mại hóa giáo dục. Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa và xuyên suốt nghiên cứu gồm:
- Đầu tư trong giáo dục đại học (hoạt động bỏ vốn hình thành cơ sở vật chất và nâng cao năng lực đào tạo).
- Cơ sở giáo dục đại học tư thục phi lợi nhuận.
- Xã hội hóa giáo dục.
- Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư giáo dục.
- Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ sở đào tạo.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống hơn 15 văn bản quy phạm pháp luật trọng yếu, bao gồm Hiến pháp năm 2013, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Giáo dục năm 2005, Luật Giáo dục đại học năm 2012, cùng các nghị định hướng dẫn thi hành và biểu cam kết dịch vụ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đồng thời, tác giả khai thác các báo cáo thống kê chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích trên toàn bộ mạng lưới 412 trường đại học, cao đẳng, tập trung chuyên sâu vào các mô hình trường đại học tư thục và các dự án liên doanh, liên kết có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp tổng hợp dữ liệu thống kê thứ cấp là nhằm đối chiếu tính tương thích giữa quy định pháp luật thực định với thực tiễn tranh chấp vốn, quản trị nội bộ và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính tại các trường đại học.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, hệ thống thể chế hiện hành bộc lộ sự chồng chéo rõ nét giữa các quy định của Luật Đầu tư năm 2005, Luật Doanh nghiệp và Luật Giáo dục đại học năm 2012. Thực trạng quản trị tại các trường tư thục cho thấy sự lúng túng khi vừa phải hoạt động theo mô hình doanh nghiệp có cổ đông, vừa phải tuân thủ tôn chỉ phi lợi nhuận của cơ sở đào tạo, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn nội bộ gay gắt về quyền tài sản và phân phối lợi nhuận.
Thứ hai, hiệu quả đầu tư tài chính và ứng dụng nghiên cứu khoa học công nghệ trong trường đại học còn rất hạn chế. Mặc dù ngân sách nhà nước cấp cho nghiên cứu khoa học tại các trường đại học tăng dần (từ hơn 259,5 tỷ đồng năm 2006 lên mức khoảng 170 tỷ đồng vào năm 2012), nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của các trường chỉ chiếm vỏn vẹn 3,92% tổng tài chính. Đáng chú ý, có tới khoảng 40% kết quả nghiên cứu khoa học rơi vào tình trạng bị cất giữ trong kho mà không thể thương mại hóa.
Thứ ba, sự thiếu đồng bộ về phân cấp quản lý và chất lượng đội ngũ giảng viên tạo nên rào cản lớn cho dòng vốn đầu tư chất lượng cao. Cả nước có khoảng 24.300 tiến sĩ vào năm 2013, nhưng chỉ có 8.519 tiến sĩ trực tiếp giảng dạy tại các trường đại học và 633 tiến sĩ tại các trường cao đẳng, trong khi gần 15.000 tiến sĩ đang công tác tại các cơ quan ngoài trường học. Bên cạnh đó, theo đánh giá chuyên gia, chỉ khoảng 15% đến 20% đội ngũ giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ đạt chuẩn năng lực học thuật quốc tế.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên bắt nguồn từ tư duy quản lý nặng tính hành chính bao cấp, chậm chuyển đổi sang cơ chế trọng tài kiến tạo. Cơ quan quản lý nhà nước vẫn can thiệp sâu vào các hoạt động mang tính tác nghiệp chuyên môn như tuyển sinh hay tổ chức bộ máy, làm triệt tiêu tính chủ động và khả năng thu hút vốn tư nhân.
Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét mối tương quan giữa sự thiếu hụt hành lang pháp lý và hiệu quả kinh tế học đường. Khi trực quan hóa qua biểu đồ cơ cấu tài chính, tỷ trọng 3,92% thu từ khoa học công nghệ cho thấy các trường đại học phụ thuộc tới hơn 90% vào nguồn học phí và ngân sách cấp phát. Bảng so sánh đối chiếu giữa biểu cam kết WTO và Luật Đầu tư năm 2005 chỉ ra rằng dù Việt Nam đã mở cửa cho phép thành lập cơ sở đào tạo 100% vốn nước ngoài từ ngày 01/01/2009, nhưng thủ tục thẩm tra cấp phép dự án đầu tư giáo dục vẫn phức tạp, kéo dài thời gian triển khai của các nhà đầu tư quốc tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, sửa đổi và hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của trường đại học tư thục. Cần ban hành nghị định quy định chi tiết việc chuyển đổi mô hình sở hữu, phân định rõ ràng giữa loại hình cơ sở giáo dục đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận và cơ sở hoạt động phi lợi nhuận. Cần quy định chặt chẽ mức trần phân phối lợi tức không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ và thiết lập chế độ quản lý tài sản chung không chia để bảo vệ nguồn vốn tích lũy của nhà trường.
Thứ hai, cải cách toàn diện thủ tục hành chính trong quy trình thẩm tra và cấp phép dự án đầu tư giáo dục. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư thành lập trường đại học từ 45 ngày xuống dưới 30 ngày làm việc, áp dụng cơ chế một cửa liên thông hiện đại, hoàn thành mục tiêu số hóa 100% quy trình thủ tục pháp lý trước năm 2016.
Thứ ba, thiết lập khung ưu đãi thuế và đất đai có tính khả thi cao. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế miễn, giảm 100% tiền thuê đất cho các trường đại học cam kết đào tạo các khối ngành khoa học kỹ thuật mũi nhọn, đồng thời áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% ổn định trong suốt vòng đời hoạt động của dự án giáo dục phi lợi nhuận.
Thứ tư, đẩy mạnh trao quyền tự chủ thực chất đi đôi với trách nhiệm giải trình. Chuyển đổi căn bản vai trò của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ quản lý trực tiếp sang ban hành chuẩn chất lượng và kiểm toán học thuật độc lập. Trao quyền tự chủ 100% về tuyển sinh, mở ngành và tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng khu vực hoặc quốc tế.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Các cán bộ thuộc Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tìm thấy các luận cứ thực tiễn giá trị để sửa đổi, hoàn thiện Luật Đầu tư và Luật Giáo dục đại học.
Nhóm nhà đầu tư và doanh nghiệp giáo dục: Các quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức kinh tế trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài có thể sử dụng tài liệu này để nhận diện chuẩn xác hành lang pháp lý, nắm bắt cơ chế ưu đãi thuế, đất đai và phòng ngừa rủi ro tranh chấp quản trị khi thành lập cơ sở đào tạo.
Nhóm lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học: Thành viên Hội đồng trường, Ban Giám hiệu các trường đại học công lập và tư thục có thể áp dụng các giải pháp của luận văn nhằm tái cấu trúc bộ máy tài chính, quản lý minh bạch tài sản chung không chia và xây dựng mô hình tự chủ bền vững.
Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính và Quản lý giáo dục sẽ tiếp cận được nguồn tài liệu tổng thuật phong phú, có phương pháp luận chặt chẽ về thị trường dịch vụ giáo dục đại học.
Câu hỏi thường gặp
Cơ sở giáo dục đại học phi lợi nhuận được pháp luật định nghĩa như thế nào?
Theo quy định tại Điều 4 Luật Giáo dục đại học năm 2012 và Nghị định 141/2013/NĐ-CP, đây là cơ sở giáo dục có phần lợi nhuận tích lũy hằng năm thuộc tài sản chung không chia để tái đầu tư, các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc nhận mức lợi tức không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ.
Nhà đầu tư nước ngoài có quyền thành lập trường đại học 100% vốn ngoại tại Việt Nam không?
Có. Kể từ ngày 01/01/2009, theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập cơ sở giáo dục đại học 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đáp ứng đầy đủ các điều kiện về vốn pháp định và cơ sở vật chất theo quy định chuyên ngành.
Dự án đầu tư giáo dục đại học được hưởng những ưu đãi pháp lý nào?
Theo Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Giáo dục năm 2005, đầu tư phát triển giáo dục thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư, được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10%, ưu tiên giao đất hoặc miễn giảm tiền thuê đất và hỗ trợ tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi.
Tại sao các trường đại học tư thục thường xảy ra tranh chấp quyền kiểm soát nội bộ?
Nguyên nhân chủ yếu do sự bất cập giữa mô hình công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp và tính chất phi lợi nhuận theo Luật Giáo dục đại học, khiến các quy định về quyền biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp mâu thuẫn với quyền quản trị học thuật của tập thể sư phạm.
Hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư giáo dục đại học bao gồm những nội dung chính nào?
Hồ sơ thẩm tra dự án bắt buộc phải làm rõ tính phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường đại học, nhu cầu sử dụng đất, tiến độ giải ngân vốn đầu tư, năng lực đội ngũ giảng viên cơ hữu và giải pháp bảo đảm chất lượng chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Kết luận
- Luận văn đã chuẩn hóa hệ thống lý luận về bản chất kép của giáo dục đại học là dịch vụ đào tạo chuyên sâu và hàng hóa công mang tính phúc lợi xã hội cao.
- Đánh giá toàn diện thực trạng khung pháp lý điều chỉnh mạng lưới hơn 412 trường đại học, cao đẳng, chỉ rõ những khoảng trống trong cơ chế quản trị tài chính và mô hình đại học phi lợi nhuận.
- Nhận diện các điểm nghẽn lớn trong thu hút đầu tư tư nhân và FDI, đặc biệt là tỷ lệ 40% công trình nghiên cứu chưa được thương mại hóa do thiếu cơ chế liên kết doanh nghiệp.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện quy chế sở hữu tài sản, cải cách thủ tục hành chính cấp phép đầu tư và mở rộng quyền tự chủ học thuật.
- Đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp hỗ trợ quá trình sửa đổi chính sách pháp luật giáo dục và đầu tư trong lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020.
Quý độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc hoàn thiện thể chế đầu tư giáo dục có thể tra cứu toàn văn luận văn để tiếp cận chi tiết các bảng biểu so sánh và phân tích quy phạm chuyên sâu.