Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI 1. Khái niệm và bản chất hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới 1. Khái niệm và bản chất hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới 1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới a.
Khái niệm “Hợp đồng” Khái niệm “hợp đồng” tại Việt Nam được quy định tại Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”[26]. Ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, hợp đồng còn được điều chỉnh bởi các lĩnh vực pháp luật khác như kinh doanh thương mại, lao động, xây dựng,… b. Khái niệm “bảo hiểm” Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, loài người luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như thiên tai, địch họa, tai nạn, bệnh tật,… và cao hơn nữa là những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội,… gây xáo trộn cuộc sống, thậm chí đe doạ tới tính mạng và của cải của mình. Chính vì vậy, con người luôn luôn tìm cách để bảo vệ mình khỏi những tác động không mong muốn đó, cũng như dự trữ tài chính để bù đắp cho những thiệt hại có thể xảy ra nhằm nhanh chóng ổn định cuộc sống và công việc.
Ngay từ xa xưa, con người đã dự trữ lương thực để đề phòng những trường hợp khẩn cấp như mất mùa, hạn hán lập các quỹ dự trữ chung cho cộng đồng để đề phòng những thảm họa, hoặc những tổn thất lớn liên tiếp ngoài sự chống đỡ của mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Đời sống kinh tế, xã hội của loài người càng phát triển, các rủi ro tiềm ẩn mà loài người có thể gặp phải càng phức tạp, khó lường và vì thế mà nhu cầu được bảo vệ, được an toàn của con người ngày càng cao. Ngành bảo hiểm ra đời chính là để đáp ứng nhu cầu đó của con người. 6 n Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm.
Dưới góc độ tài chính, “bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi” [19, tr. Dưới góc độ pháp lý, “bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại” [19, tr. Tuy nhiên, khái niệm có nội dung đầy đủ và logic nhất đó là: “bảo hiểm là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” [25, tr. Như vậy, thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm.
Khái niệm “hợp đồng bảo hiểm” Theo quy định tại Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), “hợp đồng bảo hiểm” được định nghĩa như sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”[26]. Như vậy có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm là việc tổ chức bảo hiểm cam kết bảo đảm bồi thường một số tiền nhất định cho cá nhân, tổ chức khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và có gây thiệt hại cho đối tượng được bảo hiểm trong một thời gian nhất định, còn bên mua bảo hiểm phải đóng một khoản tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm. Khái niệm “trách nhiệm dân sự” Theo quy định của pháp luật, bên có nghĩa vụ phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của bên có quyền. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa 7 n vụ của mình sẽ phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Bên có nghĩa vụ không có nghĩa vụ chịu trách nhiệm dân sự nếu việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ đó hoàn toàn phát sinh bởi lỗi của bên có quyền. Bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự chịu trách nhiệm dân sự khi việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ đó phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý của bên đó trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm dân sự nói chung được hiểu là sự quy định của pháp luật dân sự về hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm quy tắc xử sự phải gánh những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm [30, tr. Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường của một cá nhân, tổ chức gây thiệt hại đến tài sản, sức khoẻ,.
của chủ thể khác mà hành vi đó chưa phải là tội phạm theo quy định tại Bộ luật hình sự. Trách nhiệm dân sự thường được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý được cho là việc một chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạm pháp luật. Trách nhiệm dân sự không phải là một sự trừng phạt mà là một biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật vào nghĩa vụ bồi thường cho người bị tổn hại do hành vi đó gây ra.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, trách nhiệm dân sự được hiểu là nghĩa vụ dân sự của bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm mà từ đó nghĩa vụ dân sự phát sinh. Khái niệm “chủ xe cơ giới” Theo quy định của pháp luật Việt Nam, xe cơ giới bao gồm ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự. Chủ xe cơ giới có thể là người chủ sở hữu hợp pháp của xe cơ giới hoặc bên bất kỳ nào đó được chủ sở hữu xe cơ giới giao quyền chiếm hữu, sử dụng hoặc điều khiển xe cơ giới. Chủ xe cơ giới có thể là tổ chức hoặc cá nhân.
Khái niệm “hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới” Từ những phân tích trên, có thể hiểu rằng: Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới chính là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm, hay còn gọi là doanh nghiệp bảo hiểm với bên tham gia bảo hiểm, hay còn gọi là chủ xe cơ giới. Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho bên được bảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, còn bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn theo như thỏa thuận giữa các bên. Bản chất của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Khoản 1 Điều 8 Văn bản hợp nhất 25/VBHN-BTC năm 2014 hợp nhất Nghị định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do Bộ Tài chính ban hành ngày 27/6/2014 quy định: “Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới (sau đây gọi là Giấy chứng nhận bảo hiểm) là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự giữa chủ xe cơ giới với doanh nghiệp bảo hiểm”[9]. Khoản 3 Điều 6 Văn bản này cũng quy định: “Ngoài việc tham gia hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe cơ giới có thể thỏa thuận với doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia hợp đồng bảo hiểm tự nguyện”[9].
Như vậy, có thể hiểu rằng, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới chính là giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do doanh nghiệp bảo hiểm cấp cho chủ xe cơ giới. Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm theo cách thức và hạn mức đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng với điều kiện người tham gia bảo hiểm phải đóng một khoản phí tương ứng. Mục đích của người tham gia chính là chuyển giao phần trách nhiệm dân sự của mình, và ở đây chủ yếu là trách nhiệm bồi thường. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là một loại hợp đồng bảo hiểm, do đó nó cũng mang những đặc điểm chung của một hợp đồng bảo hiểm.
Cụ thể: Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới mang tính đồng thuận. Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập dựa trên sự chấp thuận của cả đôi bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tự do giao kết trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế nội dung hợp đồng chủ yếu đều do doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo sau khi đã được cơ quan quản lý xét duyệt. Dựa trên nhu cầu của mình, người tham gia bảo hiểm sẽ tự do lựa chọn có giao kết hợp đồng hay không.
Thứ hai, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là hợp đồng song vụ. Điều này có nghĩa là, các bên ký kết đều có quyền và nghĩa vụ với nhau. Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Nghĩa vụ của bên tham gia bảo hiểm là nộp phí bảo hiểm, là đề phòng và hạn chế tổn thất, yêu cầu bên bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thoả thuận hoặc do pháp luật quy định,… Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm là thực hiện trách nhiệm bồi thường (hoặc chi trả bảo hiểm) khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.