Luận văn: Phân lập hợp chất từ Nụ Vối và hoạt tính kháng ung thư tuyến tụy

Luận văn thạc sĩ Dược học nghiên cứu, phân lập hợp chất từ nụ vối và đánh giá tiềm năng kháng tế bào ung thư tuyến tụy qua thử nghiệm in vitro.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Dược học

2019

94
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Nụ Vối và Tiềm năng Kháng Ung Thư

Nụ vối (Cleistocalyx operculatus) là một loài thực vật quý hiếm phân bố tại Quảng Nam, được biết đến với giàu giá trị dược liệu trong y học cổ truyền Việt Nam. Cây vối không chỉ được sử dụng để chữa trị các bệnh thông thường mà còn chứa nhiều hợp chất hoạt tính có khả năng đặc biệt. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng hợp chất từ nụ vối có tiềm năng vô cùng lớn trong việc chống lại ung thư tuyến tụy - một trong những bệnh ung thư nguy hiểm nhất hiện nay. Sự phát triển của công nghệ phân lập và đánh giá hoạt tính tế bào in vitro đã mở ra những cơ hội mới cho việc khai thác tài nguyên dược liệu thiên nhiên này.

1.1. Đặc điểm và Phân bố của Cây Vối

Cây vối là một loài thực vật đặc hữu của miền Trung Việt Nam, đặc biệt phong phú tại Quảng Nam. Thực vật này có những đặc điểm hình thái độc đáo với nụ có màu sắc nổi bật và mùi thơm đặc trưng. Nụ vối được thu hoạch vào mùa có điều kiện khí hậu thích hợp nhất, đảm bảo chất lượng và hàm lượng các hợp chất hoạt tính cao nhất. Bộ phận này trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho các nghiên cứu dược học hiện đại.

1.2. Thành Phần Hóa Học Chính trong Nụ Vối

Nụ vối chứa nhiều hợp chất hoạt tính như flavonoid, chalcone và các tinh dầu quý giá. Các hợp chất chalcone đặc biệt được xem là những thành phần có khả năng kháng ung thư mạnh mẽ. Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc hóa học cho thấy sự đa dạng của các hợp chất tự nhiên có trong nụ vối, mỗi hợp chất đều có những tính chất sinh học khác nhau.

II. Cơ Chế Hoạt Động Kháng Ung Thư của Hợp Chất Nụ Vối

Các hợp chất phân lập từ nụ vối hoạt động thông qua nhiều cơ chế khác nhau để gây độc tế bào ung thư tuyến tụy. Những nghiên cứu in vitro trên các dòng tế bào PANC-1 và MIA PACA-2 đã chứng minh rằng các hợp chất này có khả năng ức chế sự tăng sinh tế bào ung thư. Cơ chế chính bao gồm kích hoạt apoptosis (quá trình tự chết tế bào), kích hoạt caspase-3 (enzyme quan trọng trong apoptosis), và làm gián đoạn chu kỳ tế bào. Những tác dụng này không những giúp làm chết tế bào ung thư mà còn không gây tác hại quá nhiều đến tế bào bình thường, đây là một lợi thế lớn trong phát triển thuốc chống ung thư.

2.1. Kích Hoạt Apoptosis Tự Chết Tế Bào

Apoptosis là quá trình chết tế bào được lập trình, một cơ chế sinh học quan trọng. Các hợp chất từ nụ vối kích hoạt con đường apoptosis thông qua kích hoạt caspase-3, một enzyme chính trong quá trình này. Khi caspase-3 được kích hoạt, nó sẽ cắt đứt các protein quan trọng trong tế bào, dẫn đến sự chết của tế bào ung thư. Quá trình này được chứng minh qua các thử nghiệm phân tích chi tiết trong phòng thí nghiệm.

2.2. Gián Đoạn Chu Kỳ Tế Bào

Chu kỳ tế bào (cell cycle) là quá trình chia tế bào bình thường. Các hợp chất kháng ung thư từ nụ vối có khả năng làm gián đoạn chu kỳ tế bào tại các giai đoạn nhất định (G1/S hoặc G2/M phase), dừng quá trình chia tế bào ung thư. Thử nghiệm phân tích chu kỳ tế bào bằng flow cytometry cho thấy rõ ràng hiệu quả này trên các dòng tế bào ung thư tuyến tụy.

III. Các Phương Pháp Đánh Giá Hoạt Tính Kháng Ung Thư In Vitro

Để xác minh tiềm năng kháng ung thư của các hợp chất từ nụ vối, các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp đánh giá hoạt tính khác nhau. Phương pháp thử nghiệm độc tính tế bào (cytotoxicity assay) là một trong những kỹ thuật cơ bản, giúp xác định nồng độ ức chế 50% (IC50) - mức nồng độ mà hợp chất gây chết 50% tế bào ung thư. Bên cạnh đó, thử nghiệm kích hoạt caspase-3, phân tích apoptosis bằng flow cytometry, và phân tích chu kỳ tế bào đều cung cấp thông tin chi tiết về cơ chế hoạt động. Những phương pháp in vitro này là bước đầu tiên quan trọng trước khi tiến hành các thử nghiệm in vivothử nghiệm lâm sàng.

3.1. Thử Nghiệm Độc Tính Tế Bào In Vitro

Thử nghiệm độc tính tế bào là phương pháp chuẩn để đánh giá khả năng gây chết tế bào ung thư. Các dòng tế bào PANC-1 và MIA PACA-2 được nuôi cấy trong môi trường DMEM có chứa huyết thanh thai bò (FBS). Các hợp chất phân lập được thêm vào với các nồng độ khác nhau, sau đó đo mật độ quang (OD) để xác định nồng độ ức chế 50% (IC50). Kết quả này cho biết hiệu quả của từng hợp chất kháng ung thư.

3.2. Phân Tích Apoptosis và Chu Kỳ Tế Bào

Flow cytometry là công nghệ hiện đại để phân tích quá trình apoptosisgián đoạn chu kỳ tế bào. Phương pháp này sử dụng các chất nhuộm đặc hiệu để đánh dấu tế bào đang trong quá trình tự chết hoặc ở các giai đoạn khác nhau của chu kỳ. Kết quả cho thấy rõ ràng tác động của hợp chất lên các dòng tế bào ung thư tuyến tụy, giúp xác định cơ chế kháng ung thư cụ thể.

IV. Tiềm Năng Ứng Dụng và Triển Vọng Phát Triển Thuốc

Kết quả nghiên cứu về hợp chất từ nụ vối mở ra những triển vọng lớn trong phát triển các loại thuốc kháng ung thư tuyến tụy mới. Các hợp chất chalcone và các hợp chất hoạt tính khác từ nụ vối cho thấy hiệu quả kháng ung thư comparable với các thuốc chống ung thư hiện có, nhưng có thể có độc tính thấp hơn. Việc tận dụng tài nguyên dược liệu thiên nhiên từ Quảng Nam không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị kinh tế và xã hội lớn. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào thử nghiệm in vivo, phát triển dạng bào chế phù hợp, và cuối cùng là thử nghiệm lâm sàng để đưa những hợp chất này vào ứng dụng lâm sàng thực tế.

4.1. Lợi Thế của Hợp Chất Tự Nhiên so với Thuốc Tổng Hợp

Hợp chất từ nụ vốiđộc tính thấp hơn so với nhiều thuốc chống ung thư tổng hợp hiện đại, điều này rất quan trọng vì ung thư tuyến tụy là bệnh khó điều trị. Các thuốc tự nhiên có khả năng kích hoạt apoptosis một cách chọn lọc trên tế bào ung thư mà không làm hại quá nhiều đến tế bào bình thường. Bên cạnh đó, chi phí khai thác các hợp chất từ nụ vối thấp hơn nhiều so với quá trình tổng hợp hóa học, làm cho giá thành thuốc rẻ hơn.

4.2. Các Bước Tiếp Theo trong Phát Triển Thuốc

Sau các kết quả in vitro thành công, bước tiếp theo là thử nghiệm in vivo trên các mô hình động vật. Tiếp theo đó, phát triển dạng bào chế thích hợp (viên nén, tiêm, v.v.) để tối ưu hóa sinh khả dụng. Cuối cùng, thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân sẽ xác định tính an toànhiệu quả thực tế. Quá trình này cần sự hợp tác giữa các nhà khoa học, bệnh viện, và các cơ quan quản lý.

21/12/2025
Huỳnh như tuấn phân lập và đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư tuyến tụy in vitro của một số hợp chất từ nụ vối cleistocalyx operculatus roxb merr et perry thu hái ở quảng nam luận văn thạc sĩ dược học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư tuyến tụy là một loại khối u ác tính thường gặp có tần suất xuất hiện ngày càng tăng trên thế giới. Do tỷ lệ xâm lấn hủy hoại cao và phát triển âm thầm với rất ít biểu hiện hay triệu chứng, ung thư tuyến tụy được đánh giá là một trong những bệnh ung thư nguy hiểm. Các phương pháp điều trị chủ yếu cho bệnh nhân ung thư tuyến tụy như phẫu thuật, hóa trị và xạ trị có nhiều nhược điểm lớn như tác động xấu lên các cơ quan, tấn công, làm hư hại các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể cùng hàng loạt tác dụng phụ bao gồm rụng tóc, buồn nôn, chán ăn, mệt mỏi, sức đề kháng giảm mạnh, vùng da chiếu xạ bị bạc màu,. Điều này gây ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Trong thực trạng đó, việc tìm kiếm phương pháp điều trị bổ sung hay thay thế là cần thiết và quan trọng. Hàng loạt các nghiên cứu về liệu pháp gen, liệu pháp miễn dịch, liệu pháp điều trị tại đích hay các hoạt chất chiết xuất từ thảo dược thiên nhiên (Phytosubstances) đã ra đời và được thử nghiệm làm thuốc điều trị. Trong số đó, thuốc thảo dược trở nên phổ biến với những bệnh nhân ung thư trong giai đoạn tiến triển, bởi sự hiệu quả và độc tính thấp [50]. Có hai hướng chính trong việc tìm kiếm các hoạt chất có hoạt tính sinh học đó là từ con đường sàng lọc tự nhiên và từ kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của người dân địa phương.

Trong quá trình sàng lọc hoạt tính diệt tế bào ung thư của một số cây thuốc thu hái ở khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng mà nhóm nghiên cứu Trần Mạnh Hùng và các cs. đã khảo sát, 27 mẫu thuộc 19 loài thực vật đã được đưa vào sàng lọc hoạt tính gây độc tế bào in vitro. Kết quả nghiên cứu cho thấy nụ cây Vối [Cleistocalyx operculatus (Roxb. et Perry] là một trong những mẫu thể hiện hoạt tính ức chế sự phát triển của tế bào ung thư tuyến tụy mạnh nhất với giá trị IC50 thấp [8].

Hơn nữa, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu về hoạt tính kháng tế bào ung thư tuyến tuỵ của loài cây này cũng như thành phần hóa học có liên quan. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân lập và đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư tuyến tụy in vitro của một số hợp chất từ nụ Vối [Cleistocalyx operculatus (Roxb. et Perry] thu hái ở Quảng Nam” với các mục tiêu sau: 1 1. Phân lập 3-4 hợp chất từ nụ Vối và nhận dạng chất phân lập được dựa trên các dữ liệu phổ.

Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư tuyến tụy in vitro của các hợp chất phân lập được từ nụ Vối. Tổng quan về cây Vối 1. Đặc điểm thực vật và phân bố 1. Tên gọi và vị trí phân loại • Tên khoa học: Cleistocalyx operculatus (Roxb.

et Perry [20] • Tên đồng nghĩa: Syzygium nervosum DC. [19], Eugenia operculata Roxb. Vị trí của chi Syzygium trong hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan như sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) Bộ Sim (Myrtales) Họ Sim (Myrtaceae) Phân họ Sim (Myrtoideae) Tông Trâm (Syzygieae) Chi Syzygium R. Đặc điểm thực vật Cây Vối là loại cây gỗ nhỡ, cao 5-6 m, có khi lên đến 15 m, vỏ thân nứt nẻ, màu nâu đen.

Cành, nhánh có nhiều vẩy. Lá đơn mọc đối, có cuống ngắn, phiến lá hình trứng rộng, hai mặt có những đốm màu nâu. Hoa nhỏ màu lục trắng nhạt, gần như không cuống, hợp thành cụm hoa dạng chùy rộng, mọc ở kẽ những lá đã rụng. Nụ hoa hình bầu dục, lá bắc dễ rụng.

Đài dính vào bầu. Hoa đều, lưỡng tính, 4 cánh hình tròn hay hình bầu dục, nhiều tuyến mờ dính lại ở đỉnh thành mũ hình chóp. Nhị nhiều, rời nhau. Bầu nằm sâu trong ống đài, bị nhị che kín.

Quả hình cầu hay hơi hình trứng, xù xì, khi chín có màu tím, thể chất nạc, vị ngọt. Toàn lá, cành non và nụ vò có mùi thơm dễ chịu đặc trưng [2], [4], [10], [71]. Phân bố Cây Vối phân bố từ Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam đến Malaysia, Indonesia và Úc [4]. Ở nước ta, cây mọc tự nhiên dọc theo các bờ suối hay bờ các ao hồ ở vùng núi thấp và trung thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Nội, Hòa Bình.

Cây Vối còn được trồng rải rác trong nhân dân các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Cây được trồng ở bờ ao vừa để chống sạt lở đất, vừa tận dụng khoảng không gian [2]. Bộ phận dùng Hái lá tươi, phơi khô, nhưng có người ủ rồi mới phơi khô, cách làm như sau: thái nhỏ, rửa sạch, cho vào thùng hay thúng ủ cho đến khi đen đều thì lấy ra rửa sạch, phơi khô. Lá Vối ủ uống thơm ngon hơn.

Để làm thuốc thường dùng lá tươi phơi khô [2], [3], [10]. Nụ được hái, phơi khô dùng để pha nước và làm thuốc [2], [3], [10]. Vỏ cây thu hái vào mùa hạ, thu, phơi khô [2]. Thành phần hóa học Đến nay đã có nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho biết thành phần hóa học chính của lá, nụ Vối là tinh dầu, triterpenoid và các flavonoid.

Flavonoid Từ lá và nụ Vối đã có 26 hợp chất flavonoid dạng tự do và glycosid được phân lập và công bố. Những hợp chất thuộc nhóm này sở hữu một số tác dụng sinh học đáng quan tâm như: chống oxy hóa, kháng nấm, gây độc tế bào. Dựa vào công thức cấu tạo, hầu hết những hợp chất này đều thuộc nhóm euflavonoid và nằm trong 3 phân nhóm gồm: chalcon, flavanon và flavonol. Chỉ duy nhất có hợp chất 7-hydroxy- 5-methoxy-6,8-dimethylisoflavon (1) (tìm thấy trong nụ và lá Vối) nằm trong nhóm isoflavonoid với cấu tạo isoflavon (hình 1.

Công thức cấu tạo của 7-hydroxy-5-methoxy-6,8-dimethylisoflavon 4 • Các hợp chất chalcon được phân lập chủ yếu từ nụ Vối, với đặc điểm là nhóm thế gắn vào 2 vòng thơm có cấu tạo đa dạng, tuy nhiên, nhiều nhất vẫn là 2 nhóm – OH và –CH3 (bảng 1. Trong đó, hợp chất (3), tên viết tắt là DMC, có nhiều tác dụng dược lý đáng chú ý. Hợp chất (8) có cấu tạo glycosid với phần đường gắn ở vị trí C4’ của phần aglycon qua liên kết O-glycosid. Các hợp chất chalcon được phân lập từ cây Vối.

Ký hiệu Tên hợp chất Bộ phận TLTK (E)-4,2′,4′-trihydroxy-6′-methoxy-3′,5′- 2 Nụ [22] dimethylchalcon 2′,4′-dihydroxy-6′-methoxy-3′,5′- [5],[22] 3 Lá, nụ dimethylchalcon [27],[78] 4 2′,4′-dihydroxy-3′-methyl-6′-methoxychalcon Nụ [22] 2,2′,4′-trihydroxy-6′-methoxy-3′,5′- 5 Nụ [22] dimethylchalcon 3′-formyl-4′,6′-dihydroxy-2′-methoxy-5′- 6 Nụ [75] methylchalcon 3′-formyl-4′,6′,4-trihydroxy-2′-methoxy-5′- 7 Nụ [49] methylchalcon 3′-formyl-6′,4-dihydroxy-2′-methoxy-5′- 8 Nụ [49] methylchalcon 4-O-β-D-glucopyranosid Hình 1. Các hợp chất chalcon được phân lập từ cây Vối. • Những nghiên cứu của Zhang F. (2008), Đào Trọng Tuấn và cs.

(2010), Hà Thị Kim Quy và cs. (2016) đã phân lập được 11 hợp chất flavanon từ nụ và lá Vối (bảng 1. Các nhóm thế chủ yếu gắn trên nhân thơm cạnh vòng dihydropyron, trong đó –OH và –OCH3 5 thường ở vị trí 5 và 7. Duy nhất hợp chất (19) là dạng glycosid với phần đường gắn ở vị trí C7 của phần aglycon qua liên kết O-glycosid.

Các hợp chất flavanon được phân lập từ cây Vối. Ký hiệu Tên hợp chất Bộ phận TLTK 9 (2S)-8-methylpinocembrin Nụ [22] 10 (2S)-5,7-dihydroxy-6,8-dimethylflavanon Nụ [22],[78] (2S)-5-hydroxy-7-methoxy-6,8- 11 Nụ [22] dimethylflavanon 12 (2S)-6-formyl-8-methyl-7-O-methylpinocembrin Nụ [22] 13 (2S)-7-hydroxy-5-methoxy-8-methylflavanon Nụ [22] (2S)-8-formyl-5-hydroxy-7-methoxy-6- 14 Nụ [22],[75] methylflavanon (2S)-7,2′-dihydroxy-5-methoxy-6,8- 15 Lá [27] dimethylflavanon (2S)-2,7-dihydroxy-5-methoxy-6,8- 16 Nụ [22] dimethylflavanon (2S)-8-formyl-5-hydroxy-7-methoxy-6- 17 Nụ [22],[75] methylflavanon 18 (2S)-8-formyl-6-methylnaringenin Nụ [49] (2S)-8-formyl-6-methylnaringenin 7-O-β-D- 19 Nụ [49] glucopyranosid Hình 1. Các hợp chất flavanon được phân lập từ cây Vối. 6 • Một số hợp chất nằm trong nhóm flavon và flavonol cũng được tìm thấy ở nụ và lá Vối.

Trong số 5 hợp chất flavonol phân lập được, (24) và (25) có cấu tạo glycosid với phần đường gắn với vị trí C3 của phần aglycon qua liên kết O-glycosid. Riêng hợp chất (26) có khung dihydroflavonol. Nhóm thế gắn vào 2 vòng thơm của những hợp chất thuộc 2 nhóm flavanon và flavon thường là hai nhóm –OH hoặc – OCH3 (bảng 1. Các hợp chất flavon, flavonol, dihydroflavonol được phân lập từ cây Vối.

Ký hiệu Tên hợp chất Bộ phận TLTK 20 7-hydroxy-5-methoxy-6,8-dimethylflavon Nụ [22] 21 quercetin Nụ, lá [22],[48] 22 kaempferol Nụ, lá [22],[48] 23 tamarixetin Nụ [48] myricetin-3'-methylether 3-O-β-D- 24 Nụ, lá [27],[48] galactopyranosid myricetin-3',5'-dimethylether 3-O- β-D- 25 Nụ, lá [27],[48] galactopyranosid (2S,3S)-2,3-trans-5,7-dihydroxy-6,8- 26 Nụ, lá [22] dimethyldihydroflavonol Hình 1. Các hợp chất flavon, flavonol, dihydroflavonol được phân lập từ cây Vối. Tinh dầu Năm 1994, Nguyễn Xuân Dũng và cs. đã xác định được 30 thành phần có trong tinh dầu lá bằng phương pháp sắc ký khí và sắc ký khí kết hợp khối phổ, trong đó thành phần chính là cis-β-ocimen (32,1%), myrcen (24,6%), β-caryophylen (14,5%) và trans-β-ocimen (9,4%), α-pinen (3,7%), caryophyllen oxid (2,9%), α- humulen (2,7%) [59].

Năm 2008, bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS), Nguyễn Thị Dung và cs. đã xác định được 55 thành phần khác nhau có trong tinh dầu nụ Vối, chiếm 93,71% tổng lượng tinh dầu. Trong đó chủ yếu là các monoterpen (46,71%) và sesquiterpen (36,34%) [58]. Triterpenoid Đến nay đã có 29 hợp chất triterpenoid có cấu trúc khung ursan, olean, lupan, taraxastan và multifloran được phân lập từ cây Vối, chủ yếu ở lá, một số ít được tìm thấy trong nụ và vỏ cây (thể hiện ở hình 1.

Công thức cấu tạo của triterpenoid khung ursan (A), olean (B), lupan (C), taraxastan (D) và multiflorane (E) 8 Bảng 1. Các hợp chất terpenoid được phân lập từ cây Vối. Ký Tên hợp chất Bộ phận TLTK hiệu Khung ursan 27 Acid ursolic Lá, nụ [70],[78] 28 Acid corosolic Lá [70] 29 Acid asiatic Lá [70] 30 Acid actinidic Lá [70] 31 Acid 2α-hydroxymicromeric Lá [70] 32 Acid 2α,3β,11α,23-tetrahydroxyurs-12-en-28-oic Lá [70] Acid 2α,3β-dihydroxy-24-nor-urs-4(23),12-dien- 33 Lá [70] 28-oic Acid 2α,3β,11α,23-tetrahydroxyurs-12,20(30)- 34 Lá [70] dien-28-oic Acid 2α,3β,23-trihydroxy-11α-methoxyurs- 35 Lá [70] 12,20(30)-dien-28-oic Acid 2α,3β,23-trihydroxy-11-oxours-12,20(30)- 36 Lá [70] dien-28-oic 3β,22β-dihydroxyurs-20-ene-27,28-dioic acid 28- 37 Lá [70] methyl este Khung olean Lá, nụ [5],[12], 38 Acid oleanolic và hoa [70] Lá, nụ [5],[12], 39 Acid maslinic và hoa [70] [2],[5], 40 Acid arjunolic Lá, vỏ [53],[70] 2α,3β,23-trihydroxy-11α,12α-epoxyolean-28,13β- 41 Lá [70] olid 42 2α,3β,12α,23-tetrahydroxyolean-28,13β-olid Lá [70] 43 Acid 2α,3β,11α,23-tetrahydroxyolean-12-en-28-oic Lá [70] Acid 2α,3β,23-trihydroxy-11α-methoxyolean-12- 44 Lá [70] en-28-oic Acid 2α,3β,23-trihydroxy-11-oxoolean-12-en-28- 45 Lá [70] oic 3β-hydroxyolean-13(18)-ene-27,28-dioic acid 28- 46 Lá [70] methyl este 9 Khung lupan 47 Betulin Lá [5] 48 Acid betulinic Lá [5], [70] 49 Acid alphitolic Lá [70] Khung taraxastan [70] 50 Acid 3β-hydroxytaraxast-20-en-28-oic Lá [70] 51 3β,21α-Dihydroxytar-axast-28,20β-olid Lá [70] 52 Acid 3β-hydroxytaraxast-20-en-27-al-28-oic Lá [70] 3β-hydroxytaraxast-20-ene-27,28-dioic acid 28- 53 Lá [70] methyl este 3β-hydroxy-20-oxo-21(20→19)-abeo-taraxast- 54 Lá [70] 28,21β-olid Khung multiflorane 55 Acid 2α,3β-dihydroxymultiflor-7-en-28-oic Lá [70] 1. Các hợp chất khác Các nghiên cứu của Trương Thị Tố Chinh và cs.

[5], Hà Thị Kim Quy và cs. Các hợp chất khác được phân lập từ lá Vối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ