Chương 1 KHAI QUAT VE VUNG ĐONG BAO DAN TỌC KHMER VA TÔNG QUAN VÈ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER TẠI SÓC TRĂNG 1. Đặc điêm tình hình vùng đông bào dân tộc Khmer 1. Tình hình kinh tê - xã hội Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long và là tỉnh có đông đồng bào DTTS, được tái lập tỉnh vào năm 1992, toàn tỉnh có 08 huyện, 02 thị xã, 01 thành phố, với 109 xã, phường, thị trấn và 775 khóm, ấp. Dân số là 1.823 người; trong đó, đồng bào DTTS chiếm 35,44% dân số (gồm dân tộc Khmer là 30,19%; dân tộc Hoa là 5,22%; còn lại 25 dân tộc khác là 0,037%).
Đồng bảo dân tộc Khmer sống đan xen với dân tộc Kinh, Hoa và phân bố đều khắp trên địa bàn trong tỉnh [01; Tr. 01] Hầu hết đồng bào Khmer theo đạo Phật (Phật giáo Nam tông Khmer). Thời gian qua, các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể luôn xác định công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS là nhiệm vụ trọng tâm để lãnh đạo, chỉ đạo và hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào DTTS. Thời gian qua được sự quan tâm của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nồ lực cùa các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cùa tỉnh đạt được nhiều kết quả tích cực, toàn diện trên các lĩnh vực.
Đồng thời, Tĩnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBN tỉnh đã kịp thời lãnh đạo, chi đạo các cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể phối họp triển khai đồng bộ, quyết liệt các chủ trương, chinh sách của Đảng, Nhà nước về công 14 tác dân tộc; lồng ghép việc thực hiện các chính sách dân tộc với các Chương trình mục tiêu quốc gia: Xây dựng nông thôn mới; giảm nghèo bền vừng; phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi,. tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án, chính sách đối với đồng bào DTTS như: Tập trung triển khai các dự án dạy nghề, giải quyết việc làm; dự án tín dụng ưu đãi hộ nghèo; dự án cung cấp điện, điện hoá cho đồng bào DTTS; chính sách trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu sổ; tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng có đông đồng bào DTTS, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân. Qua đó, tình hình kinh tê - xã hội vùng đông bào DTTS tiêp tục có chuyển biến tích cực; diện mạo vùng nông thôn có đông đồng bào DTTS ngày càng được cải thiện; cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư; giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát huy, gắn với phát triển du lịch văn hoá, lễ hội cùa tỉnh. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS không ngừng được nâng lên; các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS tiếp tục được giữ vừng, ổn định; khoảng cách về mức sống của DTTS so với vùng phát triển trong tỉnh được thu hẹp, góp phần 5 - 9 thực hiện hiệu quả mục tiêu công băng xã hội, “không đê ai bị bỏ lại phía sau 55 của Đảng và Nhà nước.
Đen nay, các xã vùng đồng bào DTTS của tỉnh đều có trường trung học cơ sở, trạm y tế và đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã, phường, thị trấn, khóm, ấp có điện lưới quốc gia. Tất cả xã, phường, thị trấn được phủ sóng phát thanh - truyền hình, đảm bảo phục vụ nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân. 100% số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế; đồng bào vùng DTTS được quan tâm thông qua các chính sách chăm lo về y tế [02; Tr.04]; 15 Đặc biệt, trong năm công tác giảm nghèo ở vùng đông bào DTTS có sự chuyển biến tích cực. Tỉnh ủy, UBND tỉnh rất quan tâm đến công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn, thường xuyên tổ chức đánh giá công tác quán triệt, tố chức, triển khai thực hiện các chủ trưcmg, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, và Nhà nước về công tác dân tộc; việc ban hành các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định của UBND tỉnh về công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đều bảo đảm tính hợp pháp, phù hợp tình hình thực tế và theo sự hướng dẫn của Trung ương.
UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban ngành theo dõi, tổng hợp, đánh giá kết quá thực hiện các chương trình, dự án, chính sách do ngành, đơn vị mình quản lý; chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp để giải quyết các vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc thuộc lĩnh vực ngành phụ trách. Riêng năm 2023 công tác dân tộc trong vùng đồng bào Khmer đã chuyển biến tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn tình (GRDP) ước năm 2023 là 72.093 tỷ đồng; trong đó, khu vực I chiếm 41,57%, khu vực II chiếm 15,45%; khu vực III chiếm 39,82% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,15%. GRDP bình quân đầu người năm 2023 ước đạt 60,10 triệu đồng/người.
Toàn tỉnh có 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa, khoảng 80% ấp, khóm vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 80/80 xã và 775/775 khóm, ấp có lưới điện quốc gia đến trung tâm; 100% xã, phường, thị trấn được phủ sóng phát thanh - truyền hình, đảm bảo phục vụ nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân [03; Tr.521 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 2,54%. Trong đó, hộ nghèo DTTS là 4.253 hộ, chiếm tỷ lệ 3,58%, gồm: Hộ nghèo dân tộc 16 Khmer là 4.073 hộ, chiêm tỷ lệ 4%; hộ nghèo dân tộc Hoa là 178 hộ, chiêm tỷ lệ 1,05%; hộ nghèo dân tộc khác là 02 hộ, chiếm tỷ lệ 4,55%). Tổng số hộ cận nghèo là 21.515 hộ, chiếm tỷ lệ 6,42%, trong đó, hộ cận nghèo DTTS là 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 7,44%, gồm: hộ cận nghèo dân tộc Khmer là 8.230 hộ, chiếm tỷ lệ 8,09%; hộ cận nghèo dân tộc Hoa là 601 hộ, chiếm tỷ lệ 3,55%; hộ cận nghèo dân tộc khác là 1 hộ, chiếm tỷ lệ 2,27%), Báo cáo công tác dân tộc của UBND tỉnh Sóc Trăng năm 2023 [04; Tr. UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo các ngành, các cấp triển khai đầy đủ, kịp thời các chính sách dân tộc, tập trung thực hiện quyết liệt các chương trình, dự án thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiều số, nhất là đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 - 2025.
Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục có bước phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được quan tâm chăm lo; các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc tiểu số tiếp tục được giữ vững, ổn định. Tình hình dân tộc, tôn giáo Sóc Trăng, là tỉnh đa dân tộc và đa tôn giáo, đồng bào dân tộc Khmer chiếm 30,19% so với dân số chung trong toàn tỉnh, hầu hết đồng bào Khmer theo đạo Phật (Phật giáo Nam tông Khmer). Đối với đồng bào Khmer, từ khi mới được sinh ra đã được xem là một Phật tử theo đạo truyền thống, xem triết lý Phật giáo là chân lý, đức Phật là niềm tin, ngôi chùa là niềm tự hào, sư sãi là tấm gương đạo đức. Ngoài ý nghĩa xuất gia để báo hiếu, tôi luyện đạo đức các vị sư còn được trau dồi kiến thức để phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Từ đó, ngôi chùa Khmer thêm chức 17 năng là trường học. Nơi đây còn là ngôi nhà chung ngoài việc thực hành giáo lý, còn giảng dạy tiếng Khmer đế giữ gìn và phát huy tiếng nói, chữ viết cùa dân tộc, liên tục giảng dạy kiến thức Phật học, lẫn những văn bản pháp luật của Nhà nước để phật tử đồng bào Khmer tiếp cận những thông tin mới áp dụng vào cuộc sống hàng ngày, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương. Tỉnh Sóc Trăng hiện nay có 9 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, các hệ phái Cao Đài (Tây Ninh, Tiên Thiên, Minh Chơn Đạo, Ban Chỉnh Đạo, Thượng Đế), Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Ba Ha’i. Tín đồ các tôn giáo chiếm khoảng 1/2 dân số tỉnh, cùng với một đội ngũ đông đảo các chức sắc, nhà tu hành, chức việc.
Trong hai Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng Tô quốc, là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng bào theo tôn giáo ờ tình Sóc Trăng hiện nay nhận thức rõ lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của công cuộc đổi mới gắn bó mật thiết với lợi ích của bản thân và lợi ích của tôn giáo mình tin theo. Ý thức dân tộc và trách nhiệm xã hội của quần chúng tín đồ tôn giáo được nâng lên; đồng thời, ý thức và tình cảm tôn giáo trong số đông ngày càng phát triển. Nhìn chung, đồng bào theo các tôn giáo khác nhau và đồng bào không theo tôn giáo cùng nhau đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng mở rộng và có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng quê hương Sóc Trăng ngày càng giàu đẹp.
Trong những năm qua, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền để thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa 18 bình” chông phá Việt Nam. Vì vậy công tác tôn giáo của hệ thông chính trị đang là một bộ phận rất quan trọng của công tác dân vận trong thời kỳ mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức, quan điểm và chủ trương, chính sách công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước có sự đổi mới sâu sắc.