Luận văn hoạt động truyền thông phòng chống hiv aids dựa vào cộng đồng cho dân tộc xơ đăng tại xã biên giới đắk xú huyện ngọc hồi tỉnh kon tum năm 2016

Luận văn phân tích hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng cho dân tộc Xơ Đăng tại xã biên giới Đắk Xú, Kon Tum năm 2016.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động truyền thông phòng chống HIV AIDS

Hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại Đắk Xú, Ngọc Hồi, Kon Tum năm 2016 được triển khai nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng, đặc biệt là dân tộc Xơ Đăng. Nghiên cứu này tập trung vào việc mô tả và phân tích tính phù hợp của các hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng. Các hoạt động bao gồm hội nghị, hội thảo, tập huấn, và truyền thông trực tiếp thông qua các kênh như tờ rơi, loa phát thanh, và nhân viên y tế. Kết quả cho thấy, các hoạt động này đã được thực hiện đúng kế hoạch và tiến độ, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.

1.1. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mô tả tính phù hợp của hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS và thực trạng tiếp cận của dân tộc Xơ Đăng. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính, với 330 người dân được phỏng vấn và 6 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16, giúp đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông.

1.2. Kết quả hoạt động truyền thông

Các hoạt động truyền thông đã đạt được mục tiêu đề ra, với tỷ lệ tiếp cận thông tin qua ti vi là 79,9% và qua nhân viên y tế là 78,3%. Truyền thông trực tiếp được đánh giá cao về tính phù hợp, đặc biệt khi sử dụng ngôn ngữ Xơ Đăng. Các tờ rơi và bản tin phát thanh cũng được cộng đồng đón nhận tích cực, với tỷ lệ nhu cầu tiếp cận lần lượt là 90,6% và 81,2%.

II. Thực trạng tiếp cận và nhu cầu của cộng đồng

Nghiên cứu chỉ ra rằng, dân tộc Xơ Đăng tại Đắk Xú có nhu cầu cao về các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS. Các kênh truyền thông như tờ rơi, loa phát thanh, và truyền thông trực tiếp được ưa chuộng. Đặc biệt, việc sử dụng ngôn ngữ Xơ Đăng trong các hoạt động truyền thông đã giúp tăng hiệu quả tiếp cận. Nhu cầu về tờ rơi và bản tin phát thanh được đánh giá cao, với tỷ lệ lần lượt là 90,6% và 81,2%.

2.1. Tiếp cận thông tin qua các kênh truyền thông

Cộng đồng Xơ Đăng chủ yếu tiếp cận thông tin qua ti vi (79,9%) và nhân viên y tế (78,3%). Truyền thông trực tiếp được thực hiện vào khung giờ 7-9 giờ, phù hợp với thói quen sinh hoạt của người dân. Các tờ rơi và bản tin phát thanh cũng được sử dụng rộng rãi, với tỷ lệ tiếp cận lần lượt là 46% và 48%.

2.2. Nhu cầu về các loại hình truyền thông

Nhu cầu về tờ rơi và truyền thông trực tiếp được đánh giá cao, với tỷ lệ lần lượt là 90,6% và 80,3%. Cộng đồng mong muốn các tờ rơi được viết bằng tiếng KinhXơ Đăng, đồng thời các hoạt động truyền thông trực tiếp nên được thực hiện bởi cộng tác viên y tế người Xơ Đăng. Bản tin phát thanh cũng được yêu cầu phát 1 lần/tuần vào khung giờ 5-6 giờ sáng.

III. Đánh giá và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại Đắk Xú đã đạt được hiệu quả cao, đặc biệt khi sử dụng ngôn ngữ Xơ Đăng và các kênh truyền thông phù hợp. Tuy nhiên, cần tăng cường hơn nữa việc kết hợp giữa truyền thông trực tiếp và gián tiếp để đảm bảo thông tin đến được với mọi đối tượng trong cộng đồng. Các khuyến nghị bao gồm tăng tần suất phát thanh, đa dạng hóa nội dung tờ rơi, và đào tạo thêm cộng tác viên y tế người Xơ Đăng.

3.1. Tính phù hợp của hoạt động truyền thông

Các hoạt động truyền thông được đánh giá cao về tính phù hợp, đặc biệt khi sử dụng ngôn ngữ Xơ Đăng và các kênh truyền thông đa dạng. Tuy nhiên, cần tăng cường hơn nữa việc kết hợp giữa truyền thông trực tiếp và gián tiếp để đảm bảo thông tin đến được với mọi đối tượng trong cộng đồng.

3.2. Khuyến nghị cải thiện hoạt động truyền thông

Các khuyến nghị bao gồm tăng tần suất phát thanh, đa dạng hóa nội dung tờ rơi, và đào tạo thêm cộng tác viên y tế người Xơ Đăng. Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ và hỗ trợ cộng đồng trong việc triển khai các hoạt động truyền thông.

23/02/2025
Luận văn hoạt động truyền thông phòng chống hiv aids dựa vào cộng đồng cho dân tộc xơ đăng tại xã biên giới đắk xú huyện ngọc hồi tỉnh kon tum năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đại dịch HIV/AIDS xuất hiện từ năm 1981, đến này đang là vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng trên toàn cầu. Tính đến cuối năm 2015, tổng số lũy tích người nhiễm HIV trên toàn cầu là khoảng 36,7 triệu trong đó có khoảng 2,1 triệu người nhiễm mới [49]. Ở Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2015, số người nhiễm HIV/AIDS đã có mặt ở tất cả các tỉnh/thành phố trên toàn quốc trong đó số người nhiễm HIV đang còn sống 227.154 người, số bệnh nhân AIDS là 85.194 người và 86.716 trường hợp tử vong do AIDS [10]. Theo báo cáo của 49 tỉnh, thành phố có nhiều người dân tộc thiểu số (DTTS), đến cuối năm 2012 có khoảng 15.910 người DTTS nhiễm HIV/AIDS còn sống, trong đó 12.040 người bệnh AIDS, điều này cho thấy người nhiễm HIV/AIDS đã có dấu hiệu lây lan với các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em và đồng bào DTTS [39].

Đắk Xú là một xã miền núi, có đường biên giới Việt Nam - Lào thuộc huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum với 63% người dân tộc Xơ Đăng sinh sống. Công tác phòng, chống HIV/AIDS tại xã vẫn còn nhiều khó khăn do địa bàn khu vực biên giới rộng, phức tạp; tình hình mua bán, vận chuyển, sử dụng ma túy ngày càng gia tăng; việc bất đồng về ngôn ngữ và các phong tục của các DTTS; đội ngũ nhân lực mỏng và năng lực còn hạn chế. Số người nhiễm HIV/AIDS tại đây cao nhất toàn huyện với 31 đối tượng nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên dân số là 0,45%, cao hơn so với tỷ lệ này của toàn tỉnh là 0,07% và số người nhiễm HIV còn tiềm ẩn trong cộng đồng khá cao [17]. Đây là trở ngại không nhỏ ảnh hưởng tới kết quả của hoạt động truyền thông giáo dục về phòng chống HIV/AIDS tại địa phương này.

Từ tháng 8/2015, Ban quản lý dự án Nâng cao năng lực phòng, chống HIV/AIDS khu vực tiểu vùng Mê Công mở rộng tỉnh Kon Tum (BQLDA Mê Công Kon Tum) đã triển khai thí điểm mô hình “Truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng” (gọi tắt là mô hình) tại 3 xã biên giới Việt -2- Nam - Lào: Đắk Xú, Đắk Dục và Bờ Y với đối tượng đích là toàn bộ người dân trong xã ưu tiên cho cộng đồng người DTTS, trong đó có dân tộc Xơ Đăng. Mặc dù đã có một số nghiên cứu đánh giá can thiệp về hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại một số địa phương trên cả nước đối với một số cộng đồng DTTS. Nhưng để tìm hiểu hoạt động của chương trình truyền thông phòng, chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng cho người dân tộc Xơ Đăng tại xã Đắk Xú, tỉnh Kon Tum thì chưa có một nghiên cứu nào. Phối hợp với dự án, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng cho dân tộc Xơ Đăng tại xã biên giới Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, năm 2016” nhằm cung cấp thông tin về hoạt động truyền thông, nhu cầu và sự tiếp cận với hoạt động truyền thông của mô hình truyền thông cho người dân tộc Xơ Đăng giúp BQLDA có những biện pháp điều chỉnh kịp thời các hoạt động của mô hình phù hợp hơn với địa phương đồng thời làm cơ sở khoa học cho việc nhân rộng ra các địa bàn khác tương tự.

-3- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả và phân tích tính phù hợp của hoạt động truyền thông phòng, chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng cho dân tộc Xơ Đăng tại xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, năm 2016. Mô tả thực trạng tiếp cận và nhu cầu tiếp cận với hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng của dân tộc Xơ Đăng tại xã Đắk Xú, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, năm 2016. -4- Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Một số khái niệm và tình hình nhiễm HIV/AIDS 1. Một số khái niệm HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh [6]. AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong [6]. Truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS dựa vào cộng đồng được hiểu là biện pháp tiếp cận truyền thông ở nhiều cấp độ nhằm khuyến khích thay đổi hành vi làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV nào đó cho mỗi cá nhân và cộng đồng thông qua các thông điệp phù hợp qua các kênh truyền thông khác nhau đồng thời dựa vào sự tham gia của các ban ngành, đoàn thể trong cộng đồng [11].

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau [36]. Tiếp cận là mức độ những gói dịch vụ hợp lý đến được và được sử dụng bởi các cá nhân ở một địa điểm nhất định nào đó. Tiếp cận có nhiều phương diện khác nhau bao gồm phương diện vật chất, hành chính, kinh tế, nhận thức và tâm lý [48].

Khả năng tiếp cận là một thuộc tính của một tổ chức hoặc dịch vụ có thể được truy cập. Nó đề cập đến đặc điểm thuận lợi hay cản trở đến những nỗ lực để đạt được các dịch vụ chăm sóc [48]. Một số khía cạnh về truy cập có thể được đo lường là khả năng tiếp cận địa lý (vật lý và thời gian), khả năng tiếp cận tổ chức (sự sẵn có của dịch vụ), khả năng tiếp cận xã hội và khả năng tiếp cận kinh tế [48]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Kể từ 5 trường hợp phát hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1981 cho tới nay tổng số người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống trên thế giới đến cuối năm 2015 là khoảng 36,7 triệu người (34-38,9 triệu) trong đó có 2,1 triệu (1,8-2,4 triệu) trường hợp người nhiễm HIV được mới phát hiện và 1,1 triệu (1-1,2 triệu) người tử vong do AIDS.

Tỷ lệ toàn cầu (số phần trăm người ở độ tuổi 15-49 bị nhiễm HIV) là 0,8%. Trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV mới, có 35% ở giới trẻ tuổi từ 15- 24 [46], [49]. Trong năm 2015, trên toàn cầu đã ghi nhận 1,8 triệu trẻ em sống chung với HIV, 110.000 trường hợp tử vong do AIDS và 150.000 ca nhiễm mới ở trẻ em. Có khoảng 51% người nhiễm HIV là phụ nữ.

HIV là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ chịu sự bất bình đẳng giới, hạn chế tiếp cận các dịch vụ phòng lây nhiễm HIV và dễ bị tổn thương do bạo lực tình dục gia tăng, đặc biệt là phụ nữ trẻ ở những khu vực cận Sahara của Châu Phi [46]. Mức độ nhiễm HIV/AIDS ở từng nước trong khu vực Châu Á đến nay vẫn được ghi nhận là tương đối thấp so với một số châu lục khác, nhất là so với Châu Phi. Trong năm 2015, toàn khu vực Châu Á có khoảng 5,1 triệu (4,4-5,9 triệu) người nhiễm HIV trong đó có khoảng 300.000) người nhiễm mới và khoảng 180.000) người chết do AIDS. Phương thức lây truyền HIV ở các nước Đông Nam Á chủ yếu là do quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn.

Tuy nhiên, ở một số nước khác tiêm chích ma túy (TCMT) là yếu tố nguy cơ chính làm lây truyền HIV như ở Trung Quốc chiếm khoảng 50%, một số vùng của Ấn Độ 24% tổng số người nhiễm HIV bên cạnh đó còn có Malaysia và Việt Nam cũng nằm trong những nước có nguy cơ cao lây nhiễm HIV qua đường TCMT [49], [46]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam Trường hợp nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối tháng 12 năm 1990. Tính ngày 31/12/2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống với HIV, trong đó phát hiện mới 10.195 trường hợp -6- nhiễm HIV, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV/AIDS đã tử vong [10]. Trong năm 2015, HIV/AIDS đã xảy ra ở 100% tất cả tỉnh/thành phố trên toàn quốc với 99,8% số đơn vị hành chính cấp huyện và trên 80,3% số xã/phường/thị trấn.

Tỷ lệ người nhiễm HIV bình quân trên toàn quốc là 250 người/100. Đường lây truyền chủ yếu qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không r chiếm 10,4% [10]. Cũng theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT là 9,3%, PNMD 2,7% và nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) là 5,2%. Các yếu tố nguy cơ lây truyền HIV ở Việt Nam giai đoạn hiện nay chủ yếu là lây truyền HIV trong nhóm TCMT và từ nhóm TCMT lây nhiễm HIV sang vợ/bạn tình của họ.

Ngoài ta, có yếu tố nguy cơ mới làm lây truyền HIV trong các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em và đồng bào DTTS [10]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Kon Tum Tại Kon Tum có 54,5% dân số là người DTTS trong đó dân tộc Xơ Đăng là dân tộc bản địa có dân số đông nhất toàn tỉnh chiếm 25,4%, họ thường cư trú nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới với trình độ dân trí còn hạn chế, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 19,19%, trong đó có 92,53% hộ nghèo là những hộ người DTTS [13]. Tính đến ngày 31/12/2015, lũy tích HIV/AIDS toàn tỉnh đã phát hiện 396 trường hợp nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 217 trường hợp chuyển sang AIDS, tử vong do AIDS là 136 trường hợp và phát hiện nhiễm mới là 30 trường hợp. Hình thái nhiễm HIV năm 2015 vẫn đang trong giai đoạn dịch tập trung, tỉ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm đối tượng TCMT, lây truyền qua đường máu chiếm 54,55%, qua đường tình dục 14,4%, qua đường lây mẹ truyền sang con là 3,79% và không r đường lây chiếm 27,53% [29].

-7- 400 350 300 250 Số mắc mới 200 Lũy tích tử vong do AIDS 150 Lũy tích HIV 100 50 0 2011 2012 2013 2014 2015 (Nguồn: Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Kon Tum) Hình 1.1: Biểu đồ tình hình nhiễm HIV/AIDS từ năm 2011-2015 Số lũy tích các trường hợp nhiễm HIV/AIDS tập chung chủ yếu tại thành phố Kon Tum (159), tiếp đến là huyện Ngọc Hồi (92), huyện Đăk Tô xếp vị trí thứ 3 (25).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS cho dân tộc Xơ Đăng tại Đắk Xú, Ngọc Hồi, Kon Tum 2016" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và phòng ngừa HIV/AIDS trong cộng đồng dân tộc Xơ Đăng. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục và truyền thông trong việc giảm thiểu sự lây lan của virus HIV, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình phòng chống. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm việc hiểu rõ hơn về các phương pháp hiệu quả trong công tác truyền thông và cách thức mà các hoạt động này có thể cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng hội chứng chuyển hóa một số yếu tố liên quan và hiệu quả biện pháp can thiệp ở người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh kon tum 2018 2020. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố sức khỏe liên quan và các biện pháp can thiệp hiệu quả trong lĩnh vực y tế, từ đó có thể áp dụng vào công tác phòng chống HIV/AIDS một cách toàn diện hơn.