Hoạt Động Tiếp Công Dân Của Thanh Tra Huyện Hương Sơn – Tỉnh Hà Tĩnh

Chuyên khảo phân tích Hoạt động tiếp công dân của thanh tra huyện hương sơn tỉnh hà tĩnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Thanh tra

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

76
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN CỦA THANH TRA HUYỆN

1.1. Hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện

1.1.1. Khái niệm tiếp công dân

1.1.2. Khái niệm tiếp công dân của Thanh tra huyện

1.1.3. Nội dung, hình thức, quy trình và nguyên tắc hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện

1.1.3.1. Nội dung hoạt động tiếp công dân
1.1.3.2. Hình thức tiếp công dân
1.1.3.3. Quy trình tiếp công dân
1.1.3.4. Nguyên tắc hoạt động tiếp công dân

1.1.4. Trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện

1.1.4.1. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước cùng cấp
1.1.4.2. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan
1.1.4.3. Nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh

1.1.5. Vai trò hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện trong quản lý hành chính nhà nước

1.2. Tiểu kết chương I

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN CỦA THANH TRA HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

2.1. Thực trạng hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.1. Khái quát về huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.2. Tổng quan về Thanh tra huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.3. Tình hình tiếp công dân của Thanh tra huyện Hương Sơn

2.1.4. Nhận xét và đánh giá hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện Hương Sơn

2.2. Những giải pháp đảm bảo chất lượng hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện Hương Sơn

2.2.1. Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền

2.2.2. Tổ chức phối hợp chặt chẽ với các phòng, ban, đơn vị và các cơ quan, tổ chức hữu quan

2.2.3. Phối hợp với các cơ quan báo chí, các Fanpage để xử lý khủng hoảng truyền thông

2.2.4. Thử nghiệm tiếp công dân qua mạng

2.2.5. Nâng cao trình độ, kỹ năng tin học, kỹ năng tiếp công dân của nhân sự Thanh tra huyện

2.3. Tiểu kết chương 2

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hoạt Động Tiếp Công Dân Thanh Tra Huyện

Hoạt động tiếp công dân đóng vai trò then chốt trong việc kết nối người dân và nhà nước, là cửa ngõ để giải quyết các vấn đề trong quản lý hành chính. Nếu hoạt động này không hiệu quả, xung đột sẽ nảy sinh và các vấn đề sẽ rơi vào bế tắc. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đổi mới hoạt động tiếp công dân, kế thừa những giá trị tích cực và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh mới, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cơ quan Thanh tra trong việc xây dựng niềm tin của nhân dân. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi, hoạt động tiếp công dân cần có những điều chỉnh phù hợp. Với vai trò trực tiếp tiếp công dân, cơ quan Thanh tra, đặc biệt là Thanh tra huyện, cần có những điều chỉnh để thích ứng với tình hình mới. Nghiên cứu về hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện nhằm đánh giá tình hình thực tiễn, rút ra những hạn chế, khó khăn và tìm ra những giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho nhân dân.

1.1. Khái Niệm và Ý Nghĩa của Tiếp Công Dân

Theo từ điển tiếng Việt, “tiếp” là hành động “gặp và trò chuyện (với người đến với mình)”. Trong bối cảnh nhà nước pháp quyền, tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền gặp gỡ, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân để giải quyết theo quy định của pháp luật. Hoạt động này đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tiếp công dân không chỉ là nhiệm vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm chính trị, đạo đức của cán bộ, công chức.

1.2. Vai Trò của Thanh Tra Huyện Trong Tiếp Công Dân

Thanh tra huyện đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tiếp công dân ở cấp huyện. Theo quy định của pháp luật, Thanh tra huyện có trách nhiệm tiếp công dân để tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền; tham mưu cho UBND huyện giải quyết các vụ việc phức tạp, kéo dài; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo. Hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Tiếp Công Dân Tại Huyện

Hoạt động tiếp công dân tại cấp huyện, đặc biệt là ở các huyện miền núi như Hương Sơn Hà Tĩnh, đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức. Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ngày càng tăng, tính chất ngày càng phức tạp, đòi hỏi cán bộ tiếp công dân phải có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm dày dặn. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tiếp công dân còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác tiếp công dân đôi khi còn chưa chặt chẽ, hiệu quả. Ngoài ra, nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế, dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo sai quy định, gây khó khăn cho công tác giải quyết.

2.1. Thực Trạng Khiếu Nại Tố Cáo Tại Hương Sơn Hà Tĩnh

Theo số liệu thống kê, số lượng đơn thư khiếu nại tố cáo tại Hương Sơn Hà Tĩnh có xu hướng tăng trong những năm gần đây. Nội dung khiếu nại chủ yếu liên quan đến đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, chế độ chính sách xã hội. Tố cáo thường liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai, xây dựng. Tình trạng khiếu nại vượt cấp, khiếu nại đông người vẫn còn diễn ra, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Việc giải quyết khiếu nại tố cáo đôi khi còn chậm trễ, chưa dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân.

2.2. Khó Khăn Trong Công Tác Tiếp Công Dân Của Huyện

Công tác tiếp công dân tại Hương Sơn Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn do địa bàn rộng, dân cư phân tán, trình độ dân trí không đồng đều. Cán bộ tiếp công dân thường xuyên phải đối mặt với áp lực lớn từ số lượng đơn thư nhiều, tính chất phức tạp của vụ việc, thái độ bức xúc của người dân. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tiếp công dân còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác tiếp công dân đôi khi còn chưa chặt chẽ, hiệu quả.

2.3. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Tiếp Công Dân

Hiệu quả tiếp công dân chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm: trình độ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp của cán bộ tiếp công dân; chất lượng giải quyết đơn thư; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan; nhận thức pháp luật của người dân; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tiếp công dân. Để nâng cao hiệu quả tiếp công dân, cần có giải pháp đồng bộ, toàn diện, tập trung vào các yếu tố này.

III. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tiếp Công Dân Thanh Tra

Để nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện Hương Sơn, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tiếp công dân, khiếu nại tố cáo để nâng cao nhận thức của người dân. Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho cán bộ tiếp công dân. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác tiếp công dân. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác tiếp công dân. Xây dựng quy trình tiếp công dân khoa học, hiệu quả, đảm bảo giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc.

3.1. Tăng Cường Tuyên Truyền Pháp Luật Về Tiếp Công Dân

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tiếp công dân, khiếu nại tố cáo cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc khiếu nại tố cáo, quy trình giải quyết khiếu nại tố cáo, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Tiếp Công Dân Thanh Tra

Cán bộ tiếp công dân cần được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, giải quyết tình huống. Cần chú trọng đào tạo kỹ năng lắng nghe, phân tích, đánh giá thông tin, giải thích pháp luật, hòa giải, thuyết phục. Cán bộ tiếp công dân cần có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ nhân dân.

3.3. Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Cho Tiếp Công Dân

Cần đầu tư xây dựng, nâng cấp trụ sở tiếp công dân, trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị làm việc như máy tính, máy in, điện thoại, hệ thống ghi âm, ghi hình. Cần đảm bảo môi trường tiếp công dân văn minh, lịch sự, thân thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân đến trình bày ý kiến, nguyện vọng.

IV. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Hoạt Động Tiếp Công Dân Huyện

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tiếp công dân là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Xây dựng hệ thống thông tin quản lý đơn thư khiếu nại tố cáo, cho phép công dân theo dõi tiến độ giải quyết vụ việc. Triển khai dịch vụ tiếp công dân trực tuyến, giúp công dân tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại. Sử dụng các phần mềm hỗ trợ tiếp công dân, giúp cán bộ tiếp công dân tra cứu thông tin, soạn thảo văn bản nhanh chóng, chính xác.

4.1. Xây Dựng Hệ Thống Quản Lý Đơn Thư Điện Tử

Hệ thống quản lý đơn thư điện tử giúp số hóa toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo. Công dân có thể gửi đơn thư trực tuyến, theo dõi tiến độ giải quyết vụ việc, nhận thông báo kết quả giải quyết. Cán bộ tiếp công dân có thể dễ dàng tra cứu thông tin, thống kê, báo cáo tình hình giải quyết đơn thư.

4.2. Triển Khai Dịch Vụ Tiếp Công Dân Trực Tuyến

Dịch vụ tiếp công dân trực tuyến cho phép công dân trình bày ý kiến, nguyện vọng thông qua các kênh trực tuyến như website, ứng dụng di động, video call. Dịch vụ này giúp công dân tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, đặc biệt là đối với những người dân ở vùng sâu, vùng xa.

4.3. Sử Dụng Phần Mềm Hỗ Trợ Tiếp Công Dân

Các phần mềm hỗ trợ tiếp công dân cung cấp các công cụ giúp cán bộ tiếp công dân tra cứu thông tin pháp luật, soạn thảo văn bản, quản lý lịch tiếp công dân, thống kê, báo cáo tình hình tiếp công dân. Việc sử dụng phần mềm giúp nâng cao hiệu quả, năng suất làm việc của cán bộ tiếp công dân.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Tiếp Công Dân Thanh Tra Huyện

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động tiếp công dân là rất quan trọng để xác định những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó có giải pháp cải thiện. Các tiêu chí đánh giá bao gồm: số lượng đơn thư được tiếp nhận, giải quyết; tỷ lệ giải quyết đúng hạn, đúng pháp luật; mức độ hài lòng của công dân; số lượng vụ việc được giải quyết thành công thông qua hòa giải, đối thoại. Cần có cơ chế phản hồi từ công dân để đánh giá khách quan, chính xác hiệu quả hoạt động tiếp công dân.

5.1. Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Tiếp Công Dân

Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tiếp công dân cần được xây dựng cụ thể, rõ ràng, dễ đo lường. Các tiêu chí này cần phản ánh được các khía cạnh khác nhau của hoạt động tiếp công dân, bao gồm: số lượng, chất lượng, thời gian giải quyết đơn thư; mức độ hài lòng của công dân; hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan.

5.2. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Tiếp Công Dân

Có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả tiếp công dân, bao gồm: thống kê, phân tích số liệu; khảo sát ý kiến công dân; phỏng vấn cán bộ tiếp công dân; đánh giá của cấp trên. Cần kết hợp nhiều phương pháp để có được kết quả đánh giá khách quan, chính xác.

5.3. Sử Dụng Kết Quả Đánh Giá Để Cải Thiện

Kết quả đánh giá hiệu quả tiếp công dân cần được sử dụng để xác định những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó có giải pháp cải thiện. Cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để khắc phục những hạn chế, phát huy những điểm mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân.

VI. Kết Luận và Định Hướng Phát Triển Tiếp Công Dân Huyện

Hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện Hương Sơn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Để nâng cao hiệu quả hoạt động này, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về tuyên truyền, đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin. Trong tương lai, cần tiếp tục đổi mới hoạt động tiếp công dân theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công dân.

6.1. Tóm Tắt Các Giải Pháp Đã Đề Xuất

Các giải pháp đã đề xuất bao gồm: tăng cường tuyên truyền pháp luật về tiếp công dân, nâng cao năng lực cán bộ tiếp công dân, đầu tư cơ sở vật chất cho tiếp công dân, ứng dụng công nghệ thông tin vào tiếp công dân, đánh giá hiệu quả hoạt động tiếp công dân.

6.2. Định Hướng Phát Triển Hoạt Động Tiếp Công Dân

Định hướng phát triển hoạt động tiếp công dân trong tương lai là tiếp tục đổi mới theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công dân. Cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ tiếp công dân có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao, kỹ năng giao tiếp tốt. Cần tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác tiếp công dân.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN CỦA THANH TRA HUYỆN 1. Hoạt động tiếp công dân của Thanh tra huyện 1. Khái niệm tiếp công dân “Công dân” là một danh từ đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, khái niệm “công dân” xuất phát từ nền văn minh phương Tây đầu tiên, ở thời kỳ Hy Lạp cổ đại với chế độ dân chủ ở thành bang Athens.

Nhiều quan điểm cho rằng mối quan hệ giữa công dân – nhà nước thời kỳ này khá đơn giản so với công dân thời hiện đại. Về cơ bản, công dân chỉ những người bản xứ, sinh sống, làm việc trên lãnh thổ thành bang Hy Lạp nhất định và được nhà nước trao một số quyền có hạn. Những người nô lệ và ngoại lai không được coi là công dân [36]. Đến thời kỳ hiện đại ngày nay, khái niệm công dân đã trở nên phổ biến và có sự mở rộng về phạm vi đối tượng.

Theo từ điển Oxford, công dân tiếng Anh là “citizen” – một người có quyền hợp pháp thuộc về một quốc gia cụ thể [39]. Mỗi quốc gia lại có sự định nghĩa khác nhau về công dân. Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 định nghĩa “Công dân là những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ và những lãnh thổ thuộc quyền tài phán của Hoa Kỳ ” [35]. Còn ở Hàn Quốc, theo luật Luật Quốc tịch năm 1977: “Công dân là những người được sinh ra ở Hàn Quốc có cha hoặc mẹ là người Hàn Quốc hoặc được nhập tịch”.

Ở Việt Nam, “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”, quy định tại Khoản 2, Điều 17, Hiến pháp 2013. Như vậy, từ các cách định nghĩa dưới góc độ xã hội, lập pháp, có thể đưa ra khái niệm công dân như sau: Công dân là người có quốc tịch thuộc về lãnh thổ, quốc gia nhất định, được lãnh thổ, quốc gia đó trao quyền và bảo vệ. 9 Khi đã trở thành công dân của một nhà nước, kể cả với kiểu nhà nước nào thì người đó cũng sẽ được hưởng những quyền lợi nhất định, trong đó có quyền khởi kiện và tố cáo. Ở thời kỳ nhà nước Athens, theo luật Tố tụng, công dân sẽ đưa các chứng cứ liên quan đến Tòa bồi thẩm.

Do không có Viện công tố nên công dân sẽ tự phát đơn kiện ở đây và tự bào chữa cho chính mình [36]. Còn đối với Việt Nam, từ triều đại nhà Lý đã bắt đầu có các hình thức đánh trống kêu oan, viết thư bỏ vào hòm .để người dân được bày tỏ ý kiến của mình. Đây có thể coi là manh nha cho hoạt động tiếp công dân sau này. Theo từ điển tiếng Việt, “tiếp” là một động từ, chỉ hành động “gặp và trò chuyện (với người đến với mình)” [33].

Ở thời kỳ phong kiến, dù bản chất hoạt động gặp mặt giữa vua và dân, dân và quan là để giúp dân giải quyết các vấn đề liên quan đến kiện cáo nhưng về hình thức, dưới chế độ quân chủ, vua là người đứng đầu, cai quản cả đất nước thì người dân sẽ phải “ diện kiến”, “xin được gặp” vua và quan thay vì “được tiếp đón”. Đến thời kỳ hiện đại, khi mà nền dân chủ phát triền, khái niệm “tiếp công dân” mới hình thành và mở rộng nội hàm. Hoạt động tiếp công dân của cơ quan nhà nước được diễn ra phổ biến và ở nhiều giai đoạn khác nhau khi giải quyết công việc của công dân. Đây là hoạt động diễn ra giữa hai chủ thể: một bên là người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, bên kia là cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Mặc dù thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp lý là “tiếp công dân” nhưng chủ thể được tiếp ở đây rất rộng, bao gồm cá nhân (công dân Việt Nam và người nước ngoài), cơ quan, tổ chức [13]. Xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu và lợi ích của cơ quan, đơn vị và nhìn từ phía do nhu cầu của công dân, cơ quan, tổ chức thì tiếp công dân có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể: Thứ nhất, từ bản chất từ ngữ, tiếp công dân là việc thực hiện giao tiếp từ phía cơ quan nhà nước, giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và công dân; 10 Thứ hai, từ việc đáp ứng yêu cầu của công dân, tiếp công dân là giải quyết những yêu cầu của công dân. Theo đó, công dân thực hiện quyền của mình và nhà nước phải đáp ứng; Thứ ba, hiểu là một nghiệp vụ của nhà quản lý, tiếp công dân là nhiệm vụ của người thừa hành công vụ. Khi đó, tiếp công dân thuộc phạm trù kỹ năng, nghiệp vụ công tác của cán bộ, công chức.

Trước khi luật Tiếp công dân 2013 ra đời, chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta định nghĩa về “tiếp công dân”, các văn bản luật chỉ mới có các khái niệm về trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân, quy định trách nhiệm của các cán bộ tiếp công dân. Do vậy mà luật Tiếp công dân 2013 đã quy định khái niệm “tiếp công dân” tại Khoản 1, Điều 4 như sau:“Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 4 của luật này tiếp đón để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật”. Như vậy, tiếp công dân với nghĩa chung nhất là quá trình giao tiếp giữa cơ quan nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân, cụ thể là quá trình trao đổi và tiếp nhận các thông tin phản hồi về các hoạt động quản lý nhà nước. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tiếp công dân như sau: Tiếp công dân là việc theo quy định của pháp luật, cơ quan hành chính nhà nước, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức ( gọi chung là người tiếp công dân) đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân bao gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính; cá nhân tố cáo, kiến nghị, phản ánh); giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.

Khái niệm tiếp công dân của Thanh tra huyện Sau ngày đất nước thống nhất cho đến giữa năm 1976, tại phần lớn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã thành lập cơ quan Thanh tra. Đồng thời tại nhiều địa phương, cấp ủy và UBND tỉnh, thành phố cũng đã bắt đầu coi trọng việc tổ chức các Ủy ban Thanh tra cấp huyện và tương đương. Như vậy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, hệ thống các cơ quan Thanh tra được thiết lập trong cả nước, góp phần hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước và cũng là lần đầu tiên Ủy ban Thanh tra huyện, quận và tương đương được thành lập, thuộc hệ thống cơ quan Thanh tra chuyên trách của nhà nước. Sang thời kỳ đổi mới, Pháp lệnh Thanh tra 1990 đã quy định khá đầy đủ về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thanh tra nhà nước nói chung và Thanh tra huyện nói riêng.

Theo căn cứ pháp lý trên, hệ thống Thanh tra nhà nước được đặt ở các cơ quan quản lý nhà nước trên cơ sở nguyên tắc cơ quan nào có chức năng quản lý nhà nước (về mặt hành chính) thì ở đó thành lập cơ quan Thanh tra nhà nước. Như vây, Thanh tra huyện chịu sự chị đạo của thủ trưởng cơ quan cùng cấp và tổ chức Thanh tra nhà nước cấp trên [14]. Về chức năng, nhiệm vụ, ngoài thẩm quyền về thanh tra, Thanh tra huyện còn tham mưu cho thủ trưởng cùng cấp giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết trực tiếp những khiếu nại, tố cáo mà cấp dưới trực tiếp của thủ trưởng cùng cấp đã giải quyết nhưng vẫn còn khiếu nại, tố cáo. Trong Luật Thanh tra 2004 và 2010, cơ cấu tổ chức của Thanh tra huyện được cụ thể hóa và có sự tăng thêm về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

Bên cạnh bổ sung chức năng tham mưu, giúp cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống tham nhũng; thực hiện phòng chống tham nhũng thì Thanh tra huyện vẫn tiếp tục giữ vai trò trong công tác tham mưu, giúp cơ quan quản lý nhà nước giải quyết về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiến hành thanh tra, giải quyết kiếu nại, tố cáo. 12 Kể từ khi Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo, song song với các văn bản kiện toàn bộ máy Thanh tra nhà nước nói chung và Thanh tra huyện nói riêng, có rất nhiều văn bản pháp lý khác nhằm chể thế hóa các chủ trương của Đảng về công tác tiếp công dân khiếu nại, tố cáo, trong đó có đề cập đến vai trò của cơ quan Thanh tra, bao gồm Thanh tra huyện. Ngày 15/1/1993, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18/ CT – TTg về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt, ngày 7/8/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP kèm theo Quy chế tổ chức Tiếp công dân.

Năm 2011, Quốc Hội thông qua luật Khiếu nại, trong đó có dành một chương (Chương V) có những quy định về trụ sở, địa điểm tiếp công dân, trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức trong việc tiếp công dân. Cụ thể đối với cơ quan Thanh tra, luật quy định tại Khoản 3, Điều 61 về trách nhiệm tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, tổ chức như sau: “Chánh Thanh tra các cấp có trách nhiệm tiếp công dân thường xuyên theo quy định của pháp luật”. Pháp luật về tiếp công dân tiếp tục được hoàn chỉnh khi Quốc hội thông qua Luật Tiếp công dân với 9 chương, 36 điều và có hiệu lực từ 1/7/2014. Ngày 26/5/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 35- CT/TW về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Chỉ thị này quy định cụ thể về trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, gắn liền tiếp công dân với giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường sự phối hợp của cơ quan thanh tra trong giải quyết các trường hợp khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ