Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm toán thu ngân sách địa phương Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hoạt động kiểm toán thu ngân sách địa phương của Kiểm toán Nhà nước khu vực VII Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu ngân sách địa phương của Kiểm toán Nhà nước khu vực VII. c 5 Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TOÁN THU NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG 1. Cở sở lý luận về kiểm toán thu ngân sách địa phương 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm ngân sách địa phương Để hiểu được thuật ngữ về ngân sách địa phường (NSĐP), trước tiên chúng ta phải làm rõ khái niệm liên quan đến ngân sách nhà nước (NSNN). NSNN là một phạm trù mang tính lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Theo nguyên lý chung, NSNN là một bộ phận của công sản và được huy động, cất trữ, sử dụng trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị cụ thể. Ở nước ta khi bàn về khái niệm ngân sách và NSNN có nhiều quan niệm khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề khác nhau, nhưng đến khi hệ thống NSNN được luật hóa thì khái niệm ngân sách được hiểu như sau: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Điều 1, luật NSNN năm 2002).
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương “Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới (cấp dưới của chính quyền nhà nước trung ương) phù hợp với địa giới hành chính các cấp”. Để mỗi cấp chính quyền cấp dưới thực hiện được những nhiệm vụ của cấp mình, nhà nước dựa trên phân cấp về quản lý hành chính và phân cấp về quản lý kinh tế để tiến hành phân cấp quản lý NSNN, từ đó hình thành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách 3 cấp: Ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Tóm lại NSĐP có thế được định nghĩa như sau: "NSĐP là toàn bộ các khoản thu, chi của chính quyền địa phương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, c 6 nhiệm vụ của Nhà nước địa phương" theo Luật NSĐP Việt Nam được kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá XI thông qua ngày 16/12/2002.
Khái niệm thu ngân sách địa phương Thu ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. Về phân cấp ngân sách địa phương được chia theo ba cấp độ đó là: Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ngân sách thành phố, quận, thị xã, huyện thuộc tỉnh; Ngân sách xã, phường, thị trấn. Đối với nguồn ngân sách này các cấp địa phương được phép độc lập thu ngân sách theo đúng thẩm quyển và trách nhiệm của mình (KTNN, 2012). Nguồn thu của ngân sách địa phương Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%: Các nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng 100% theo quy đinh bao gồm những khoản cụ thể sau đây: (1) Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; (2) Thuế sử dụng đất nông nghiệp; (3) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; (4) Tiền sử dụng đất; (5) Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước, không kể tiền thuê đất, thuê mặt nước từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; (6) Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; (7) Lệ phí môn bài; (8) Lệ phí trước bạ; (9) Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, kể cả hoạt động xổ số điện toán; (10) Các khoản thu hồi vốn của ngân sách địa phương đầu tư tại các tổ chức kinh tế (bao gồm cả gốc và lãi); thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đại diện chủ sở hữu; (11) Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất, chuyển mục đích sử dụng đất do các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập, các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu đơn vị hoặc doanh c 7 nghiệp mà có vốn của ngân sách địa phương tham gia trước khi thực hiện cổ phần hóa, sắp xếp lại và các đơn vị, tổ chức khác thuộc địa phương quản lý; (12) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương; (13) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện, trường hợp được cấp có thẩm quyền cho khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập địa phương và doanh nghiệp nhà nước địa phương thực hiện, sau khi trừ phân được trích lại để bù đắp chi phí theo quy định của pháp luật; (14) Lệ phí do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu; (15) Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước địa phương quyết định thực hiện xử phạt, tịch thu; (16) Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước do các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc địa phương xử lý, sau khi trừ đi các chi phí theo quy định của pháp luật; (17) Thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, cấp quyền khai thác tài nguyên nước phân ngân sách địa phương được hưởng theo quy định của pháp luật; (18) Tiền sử dụng khu vực biển đối với khu vực biển thuộc thẩm quyền giao của địa phương; (19) Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; (20) Huy động đóng góp từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; (21) Thu từ quỹ dự trữ tài chính địa phương; (22) Thu kết dư ngân sách địa phương (KTNN, 2013).
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật: Các khoản thu ngân sách địa phương theo quy định pháp luật khác với các nguồn thụ địa phương được hưởng 100% bao gồm những khoản sau đây: Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.Thu bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương.Thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang (KTNN, 2013). Khái niệm và vai trò của kiểm toán Khái niệm: Kiểm toán bắt nguồn từ thuật ngữ “Audit” trong tiếng Latin. Nhưng điều thú vị là từ “Audit” của tiếng Latin lại có nghĩa là người nghe (one who hears). Vào khoảng thế kỷ thứ III trước công nguyên, chính quyền La Mã đã tuyển dụng các c 8 quan chức để kiểm tra độc lập về tình hình tài chính và nghe thuyết trình của họ về kết quả kiểm tra này.
Từ đó cho đến nay, “Audit” đã trở thành một từ phổ biến để chỉ công việc kiểm tra và bày tỏ ý kiến đối với các báo cáo tài chính. Có nhiều định nghĩa về kiểm toán. Mỗi quốc gia, mỗi hiệp hội, mỗi nhóm chuyên gia nghiên cứu lại có những phát biểu khác nhau về kiểm toán. Các chuyên gia giáo dục và đào tạo kiểm toán ở Cộng hoà Pháp định nghĩa rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản hàng năm của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”.
Hiện nay khá niệm về kiểm toán có thể được hiểu là một quá trình do kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập tiến hành nhằm thu thập bằng chứng về thông tin có thể định lượng của một tổ chức và đánh giá chúng nhằm thẩm định và báo cáo mức độ phù hợp giữ những thông tin đo với những chuẩn mực đã được thiết lập. Phạm vi kiểm toán: Theo quan điểm hiện đại, phạm vi của kiểm toán rất rộng, bao gồm các lĩnh vực khác nhau như: Kiểm toán về thông tin, Kiểm toán hiệu quả, Kiểm toán tính quy tắc, Kiểm toán hiệu năng …. Chẳng hạn, khi kiểm toán về thông tin, nhân viên kiểm toán sẽ hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu để tạo cơ sở pháp lý và niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán. Còn kiểm toán hiệu quả là kiểm tra, đánh giá các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh như mua bán, sản xuất hay dịch vụ để giúp các công ty hoạch định lại chính sách cho việc hoàn thiện hoạt động kinh doanh của công ty mình.
Đối tượng của kiểm toán: Đối tượng của kiểm toán trước hết là các tài liệu kế toán. Nhưng công việc xác minh tính trung thực, đúng đắn của các báo cáo tài chính là để hướng tới tất cả các đơn vị, cá nhân quan tâm đến tình hình tài chính của một công ty, tổ chức nào đó. Với các cơ quan Nhà nước cần thông tin trung thực để hoạch định chính sách kinh tế phù hợp, các nhà đầu tư cần tài liệu tin cậy để sử dụng đồng tiền của mình đúng mục đích. Người lao động, khách hàng, nhà cung cấp cần hiểu thực chất về c 9 kinh doanh và tài chính, chế độ tiền lương của công ty mình để làm việc.
Những người quan tâm này lại không có nghiệp vụ về tài chính, kế toán. Và chỉ nhân viên kiểm toán mới có thể giúp được họ.