CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BỘ 1.1 Tổng quan về hoạt động giao nhận 1.1 Khái niệm hoạt động giao nhận Theo quy tắc mẫu của FIATA – Hiệp hội giao nhận quốc tế (Federation Internationale des Associations de Transitaries et Assimilaimes) thì dịch vụ giao nhận được định nghĩa như sau: “Dịch vụ giao nhận là bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ kể trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa” Theo luật Thương Mại Việt Nam 2005 “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, trong đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, sau đó tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác (gọi chung là khách hàng) để hưởng thù lao” Như vậy, theo cách dễ hiểu giao nhận là thực hiện những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) – Forwarder (FWD) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) – Consignee (Cnee) 1.2 Đặc điểm hoạt động giao nhận Theo Trịnh Thị Thu Hương (2011), hoạt động giao nhận hàng hóa cũng là một loại hình dịch vụ nên nó mang những đặc điểm chung của ngành dịch vụ, đó là: Nó là hàng hóa vô hình nên không có tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đồng nhất, không thể cất trữ trong kho, sản xuất và tiêu dùng được diễn ra đồng thời, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận của người được hưởng dịch vụ đó. Đồng thời cũng mang những đặc điểm riêng của ngành giao nhận hàng hóa: - Thứ nhất, dịch vụ giao nhận hàng hóa không tạo ra sản phẩm vật chất, không tác động về mặt kỹ thuật làm thay đổi đối tượng mà nó chỉ làm thay đổi vị trí của đối tượng về mặt không gian. - Thứ hai, dịch vụ giao nhận mang tính thụ động, do phụ thuộc phần lớn vào nhu cầu của khách hàng, các quy định của người vận chuyển, hạn chế từ 5 các ràng 5 buộc về mặt pháp lý, thể chế của chính phủ (nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hay nước thức ba,. - Thứ ba, dịch vụ giao nhận mang tính thời vụ, dịch vụ này phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu nên phần lớn phụ thuộc vào lượng hàng hóa xuất nhập khẩu.
Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu mang tính chất thời vụ nên hoạt động giao nhận cũng bị ảnh hưởng theo. - Thứ tư, bên cạnh các công việc như làm các thủ tục, môi giới, lưu cước, người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa cũng cung cấp các dịch vụ như gom hàng, phân chia, xếp dỡ, lưu kho,. Vì vậy, công việc được thực hiện tốt như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như kinh nghiệm của người làm giao nhận.3 Vai trò hoạt động giao nhận Theo Nguyễn Thanh Hùng (2013), vai trò của giao nhận quốc tế gồm: - Giao nhận hàng hóa tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không cần người gửi hàng cũng như người nhận hàng phải có mặt. Lưu thông, luân chuyển hàng hoá, giao lưu thương mại giữa các vùng trong nước với nhau và với nước ngoài là hoạt động thiết yếu của nền kinh tế.
Nếu các hoạt động này thành công và hiệu quả, sẽ đóng góp rất lớn vào sự phát triển của ngành sản xuất; người lại, nếu những hoạt động này bị ngưng trệ sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hoạt động sản xuất và đời sống. - Giao nhận hàng hóa giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của các phương tiện vận tải, tận dụng được một cách tối đa và có hiệu quả dung tích và tải trọng của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải, cũng như các phương tiện hỗ trợ khác. - Quá trình giao nhận hàng hóa làm giảm thời gian nhận hàng của khách hàng. Bên cạnh đó, giao nhận hàng hóa cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết như chi phí xây dựng kho tàng bến bãi của người giao nhận hay do người giao nhận thuê, giảm chi phí đào tạo nhân lực.
- Giao nhận hàng hóa góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. Các nhà sản xuất muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của 7 mình cần có sự hỗ trợ của dịch vụ giao nhận. Dịch vụ này có tác dụng như cầu nối trong vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường đến các thị trường mới đúng yêu cầu về 6 thời gian và địa điểm đặt ra. Nên doanh nghiệp có thể khai thác và mở rộng thị trường nhanh và mạnh hơn.2 Tổng quan về người giao nhận 1.1 Khái niệm người giao nhận Chưa có một một định nghĩa chuẩn tắc của quốc tế về thuật ngữ “Người giao nhận (NGN) hàng hóa quốc tế”.
Dù các nước khác nhau, người kinh doanh dịch vụ giao nhận (DVGN) được gọi tên khác nhau: ‘Đại lý Hải quan” (Customs House Agent), “Môi giới hải quan” (Customs Broker), “Đại lý gửi hàng và giao nhận” (Shipping and Forwarding Agent), một vài trường hợp là “Người ủy thác chuyên chở, tức Người Chuyên chở chính” (Principal Carrier),… Theo quy tắc mẫu của FIATA thì: “Người giao nhận là người lo toan về hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở”. Theo điều 233 – mục 4: dịch vụ Logistics trong Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam thì người giao nhận (thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics) là: “Thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Tóm lại, NGN hàng hóa là người hoặc tổ chức có nhiệm vụ giao nhận hàng hóa từ nước ngoài và giao cho những bên liên quan. Có trách nhiệm xác nhận tình trạng và số lượng hàng hóa, thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu, lưu kho, đóng gói hàng hóa trong hoạt động giao nhận hàng hóa đúng theo thỏa thuận đã đưa ra trên hợp đồng.2 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận - Theo quy định Điều 167, Luật Thương mại Việt Nam quy định: + NGN được hưởng tiền công và các khoản thu hợp lý khác + Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng + Trong quá trình thực hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng - Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thực hiện được chỉ dẫn của khách hàng phải thông báo cho khách hàng biết để xin được chỉ dẫn thêm.
7 + Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợp đồng không thoả thuận về thời gian thực hiện nghiã vụ với khách hàng. - Khi NGN là đại lý: sẽ phải chiụ trách nhiệm về những sơ suất, lỗi lầm và thiết sót như: + Giao hàng không đúng chỉ dẫn + Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm hàng hóa mặc dù đã có hướng dẫn + Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan + Chở hàng sai nơi đến quy định + Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế - Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng. + Chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra cho người thứ ba trong hoạt động của mình. Nhưng không chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại do người thứ ba gây ra.
- Khi NGN là người chuyên chở: + Chịu trách nhiệm cung cấp những dịch vụ mà khách hàng yêu cầu + Chịu trách nhiệm về những thiệt hại do người thứ ba gây ra - là người, anh ta thuê để thực hiện hợp đồng với khách hàng. - Điều 170, Luật Thương mại Việt Nam giới hạn trách nhiệm của NGN: + Trong mọi trường hợp không vượt quá giá trị hàng hóa, trừ khi các bên có thoả thuận khác trong hợp đồng; + Không được miễn trách nhiệm nếu không chứng minh được việc mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng không phải lỗi của mình gây ra + Tiền bồi thường được tính trên cơ sở giá trị hàng hóa ghi trên hoá đơn và các khoản tiền khác có chứng từ hợp lệ. - Người làm DVGN không phải chịu trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: + Không nhận được thông báo khiếu nại trong vòng 14 ngày làm việc, kể từ ngày giao hàng + Không nhận được thông báo bằng văn bản về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc toà án trong thời gian 9 tháng, kể từ ngày giao hàng. - Điều 169, Luật Thương mại Việt Nam quy định Người làm DVGN không chiụ trách nhiệm trong những trường hợp sau: 8 + Do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng uỷ thác + Khách hàng đóng goí và ghi ký mã hiệu không phù hợp + Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa + Do chiến tranh, đình công - do các trường hợp bất khả kháng 1.3 Phạm vi dịch vụ của người giao nhận Công việc của người giao nhận trước đây đơn giản hơn rất nhiều so với ngày nay, họ thường chỉ hoạt động như những đại lý (Agent), thực hiện các công việc, nhiệm vụ do nhà sản xuất, nhà xuất nhập khẩu ủy thác như: xếp dỡ, lưu kho, làm các thủ tục giấy tờ, thủ tục hải quan, vận tải nội địa… Tuy nhiên ngày nay phạm vi hoạt động, vai trò của các nhà giao nhận ngày càng được nâng lên cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và vận tải quốc tế.
Ngày nay ngoài các công việc truyền thống như lưu tàu (booking space), khai báo hải quan (customs clearance), các nhà giao nhận còn đưa ra các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận chuyển và phân phối hàng. Thông thường người giao nhận thay mặt người gửi hàng hoặc người nhận hàng đứng ra lo liệu quá trình vận chuyển qua các công đoạn khác nhau cho đến khi giao hàng đến tận tay người nhận cuối cùng.