Chương 1: Lý luận chung về hoạt động Ngân hàng trên phạm vi quốc tế. Chương 2: Tình hình hoạt động các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Chương 3: Các giải pháp nhằm khuyến khích các ngân hàng nước ngoài phát triển, phục vu nền kinh tế trong giai đoạn mới. 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRÊN PHẠM VI QUỐC TẾ 1.
QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRÊN PHẠM VI QUỐC TẾ Những ngân hàng cổ xưa với bộ luật Hammurabi, việc phát minh ra tiền và sự cải tiến các phương tiện giao thông đã đặt nền móng cho quá trình phát triển của ngân hàng quốc tế. Tiếp đến là sự phát triển của các trung tâm tài chính quốc tế lớn như Antwerp (Bỉ), Amsterdam (Hà Lan) sau đó chuyển dịch sang London (Anh) và New York (Mỹ)… đã làm cho hoạt động ngân hàng quốc tế bắt đầu khởi sắc và trở nên sôi động hơn. Ngay từ khi mới xuất hiện, ngành công nghiệp ngân hàng đã không ngừng mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ sang các khu vực khác, sang các quốc gia khác. Những ngân hàng đầu tiên như: Athens, Cairo, Jeusalem và Rome, với chức năng hỗ trợ cho các thương gia trong việc mua bán nguyên vật liệu, hàng hóa và tiến hành hoạt động chuyển đổi đồng tiền của một quốc gia này sang đồng tiền quốc gia khác.
Trong những năm 1950 và năm 1960, các ngân hàng Mỹ đã nhanh chóng mở rộng hoạt động của mình ra nước ngoài thông qua những hình thức như thiết lập mạng lưới chi nhánh, thành lập ngân hàng con và liên doanh với các ngân hàng địa phương tại hàng trăm khu vực thị trường khác nhau. Quá trình mở rộng ra thị trường nước ngoài của các ngân hàng Mỹ chủ yếu nhắm vào thị trường Châu Âu, Trung Đông, Nam Mỹ và Trung Mỹ. Vào những năm 1970 và 1980, các ngân hàng Mỹ đã có mặt ở vành đai châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông và Singapo. Tuy nhiên, vào những năm 80, ánh hào quang của hoạt động ngân hàng quốc tế đã được chuyển sang cho các Ngân hàng của Nhật Bản.
Các ngân hàng này đã thiết lập mạng lưới cung cấp dịch vụ lớn tại London. Newyork và tại nhiều trung tâm tài chính 2 tầm cỡ khác. Trong lúc này thì các ngân hàng Mỹ và Tây Âu lại đang phải đối mặt với sự giảm sút về tốc độ tăng trưởng. Cũng vào thời kỳ này, những quốc gia con nợ của các ngân hàng quốc tế, đặc biệt là các nước như: Brazin và Mexico đang phải đối phó với nhiều vấn đề kinh tế quan trọng.
Cho nên các khoản tín dụng cũng bị chậm trễ hay tạm ngừng hoàn trả, kết quả là việc cắt giảm chi phí trong hoạt động ngân hàng diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù vậy vào thập kỷ 90, hoạt động ngân hàng quốc tế tái khởi sắc khi châu Âu, châu Á và châu Mỹ bước vào thời kỳ tăng trưởng mới. Các ngân hàng của Mỹ và Tây Âu, dẫn đầu là những tập đoàn khổng lồ như Citigroup, Bank of America, UBS/Swiss Bank, Chase Manhattan, Ban – clays PLC và HSBC Holdings of the United Kingdom, The Netherland ING Group và Germany’s Deutsche Bank đã dành được ánh hào quang để vươn lên tầm cao mới. Ngày nay, đối với những ngân hàng tầm cỡ quốc tế, thu nhập từ việc cung cấp những dịch vụ ngân hàng quốc tế vẫn là một nguồn quan trọng.1: Một số tập đoàn ngân hàng lớn nhất trên thế giới Đơn vị tính: tỷ USD Tên Quốc gia Tài sản Fannie Mae Mỹ 3.200 Deutsche Bank Đức 2.454 Bank Of American Mỹ 2.264 JPMorgan Chase Mỹ 2.118 (Nguồn: theo danh sách xếp hạng Ngân hàng lớn nhất thế giới của Forbes 2012 ) [30] 3 Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng trung ương Quốc tế BIS (Bank For International Settlement), khi một ngân hàng khác nhau về một trong 4 phương diện sau được gọi là Ngân hàng quốc tế:[26] (1) Quốc gia xuất xứ (home country): nơi mà điều lệ tổ chức của ngân hàng mẹ được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn.
(2) Địa điểm kinh doanh của ngân hàng (host country): nơi cung cấp các dịch vụ ngân hàng. (3) Quốc gia của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng. (4) Đồng tiền định giá sản phẩm của ngân hàng. Để thấy rõ hơn về tính chất quốc tế của hoạt động kinh doanh ngân hàng ta có thể xem xét 3 yếu tố sau đây: 1.
Thị trƣờng ngân hàng Trước hết ta có thể xem xét thị trường ngân hàng thông qua ma trận thị trường hoạt động của ngân hàng dựa trên 2 yếu tố: địa điểm kinh doanh ngân hàng& quốc gia cư trú của khách hàng.2 Ma trận thị trường hoạt động của ngân hàng Địa điểm kinh doanh Quốc gia cƣ trú của khách hàng của ngân hàng Quốc gia 1 Quốc gia 2 Quốc gia 1 M11 M12 Quốc gia 2 M21 M22 Ma trận trên cho ta thấy 4 thị trường hoạt động của một ngân hàng quốc tế M11: thị trường ngân hàng trong nước M12: thị trường NHNNg truyền thống (giao dịch tài trợ ngoại thương bằng nội tệ và ngoại tệ) 4 M21: Có đặc điểm phù hợp với tính chất của thị trường Eurocurrency. Ngân hàng hiện diện tại nước ngoài cung cấp cho khách hàng bằng nội tệ và ngoại tệ M22: Thị trường bản xứ nước ngoài. Ngân hàng thiết lập sự hiện diện tại nước ngoài và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng tại địa phương ấy. Ngay từ khi bắt đầu hoạt động, các ngân hàng không chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp một quốc gia mà càng ngày chúng càng bành trướng sức mạnh của mình ra nhiều thị trường hơn để phục vụ khách hàng của mình tốt hơn.
Bằng chứng là đã xuất hiện rất nhiều tập đoàn tài chính- ngân hàng xuyên quốc gia, hoạt động toàn cầu mà nổi tiếng là HSBC hoạt động cung cấp dịch vụ tại gần 90 quốc gia vùng lãnh thổ, phục vụ trên 126 triệu khách hàng, hay Citigroup đã có mặt trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 200 triệu khách hàng. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng Ngay khi ra đời các ngân hàng quốc tế đã nắm bắt nhu cầu của khách hàng và cung cấp cho họ rất nhiều dịch vị hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của họ. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng quốc tế là hết sức đa dạng, phong phú, từ những sản phẩm dịch vụ truyền thống như trao đổi ngoại tệ, nhận tiền gởi, cho vay thương mại, bảo quản vật giá, … xuất hiện ngay từ buổi sơ khai, và các sản phẩm này tiếp tục phát triển đa dạng, mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng, cho đến nay danh mục các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng quốc tế là vô cùng đa dạng phong phú, nhiều ngân hàng quốc tế lớn cung cấp tới 6000-7000 sản phẩm dịch vụ với những sản phẩm vô cùng quen thuộc và cần thiết cho hoạt động thương mại như: thanh toán L/C, nhờ thu, bảo lãnh…với những sản phẩm của ngân hàng quốc tế đã góp phần to lớn thúc đẩy hoạt động ngoại thương xuyên biên giới, xuyên quốc gia phát triển một cách thuận lợi và ngày càng phát triển nhanh chóng. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực cũng là một trong các yếu tố thể hiện tính chất quốc tế của hoạt động ngân hàng.
Nguồn nhân lực của ngân hàng quốc tế có thể nói là đa quốc gia, đa ngôn ngữ, đa văn hoá. Một ngân hàng quốc tế khi mở rộng phạm vi hoạt động ra khỏi phạm vi quốc gia của mình thì nhân lực không thể nào đưa toàn bộ từ nước nhà sang mà họ phải tìm kiếm những nhân tài ngay từ quốc gia đó. Với những tập đoàn tài chính- ngân hàng toàn cầu, thì môi trường làm việc của họ là đa sắc tộc, nguồn nhân lực của họ đến từ khắp nơi trên thế giới. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRÊN PHẠM VI QUỐC TẾ 1.
Môi trƣờng vĩ mô Yếu tố kinh tế của địa phương: Một số yếu tố quan trọng của môi trường kinh tế gồm: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, triển vọng phát triển của các ngành sử dụng vốn, lãi suất, các biến động thị trường… Yếu tố chính trị và pháp luật: Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động của NHNNg. Hệ thống luật pháp bao gồm các văn bản pháp quy qui định chi tiết các điều kiện thành lập, hoạt động và phát triển của một ngân hàng. Hơn nữa, một nền chính trị ổn định, thống nhất, không có xung đột, đình công sẽ là một đất nước an toàn để đầu tư và mở rộng hoạt động của ngân hàng quốc tế. Yếu tố văn hóa xã hội: Gồm nhiều vấn đề mang tính lâu dài và chậm thay đổi, có giá trị lớn trong quyết định đầu tư của các NHNNg như: văn hóa tiêu dùng, tập quán tiết kiệm và đầu tư… Yếu tố mở cửa và hội nhập: Mức độ mở cửa của một quốc gia có tác động rất lớn đến quyết định tham gia của NHNNg vào thị trường trong nước.
Xu hướng hướng ra thế giới là tất yếu nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong hoạt động ngân hàng. Mở cửa thị trường đồng nghĩa với việc thay đổi môi trường kinh doanh cũ bằng một môi trường 6 kinh doanh mới phức tạp hơn, khắc nghiệt hơn nhưng nhiều cơ hội hơn. Với một quốc gia có mức độ mở cửa và hội nhập càng cao thì mức độ thu hút đầu tư từ các ngân hàng quốc tế càng nhiều. Môi trƣờng vi mô Nguồn lực cung cấp: những nguồn lực cung cấp cho quá trình kinh doanh của ngân hàng bao gồm: nguồn lao động và thị trường tiền gửi.
Lao động là lực lượng nhân sự làm việc và phục vụ trong hệ thống ngân hàng. Thị trường tiền gửi là nguồn huy động vốn của ngân hàng , thị trường này đa số thường bị giới hạn bởi những quy định luật pháp của nước bản xứ. Lực lượng tiêu thụ: Khách hàng là lực lượng tiêu thụ và đánh giá chất lượng sản phẩm. NHNNg khi đầu tư họ thường nhắm đến lực lượng tiêu thụ sản phẩm dịch vụ họ tạo ra.
Vì nếu thị trường tiêu thụ rộng lớn, thì khả năng thành công khi đầu tư ra nước ngoài ngày càng cao. Đối thủ cạnh tranh hiện hữu: Đối thủ cạnh tranh có thể là các ngân hàng nội địa, các chi nhánh NHNNg khác, ngân hàng liên doanh, các định chế tài chính khác… Sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh cũng đồng nghĩa với sự thay đổi lợi thế và năng lực cạnh tranh của NHNNg tại thị trường mong muốn đầu tư.