mở đầu tư, dịch vụ và tiêu dùng đời rộng quy mô, đổi mới công sống,.tuy nhiên các điều kiện về nghiệp và thiêt bị. nhưng TSBĐ và khả năng trả nợ vay phần TSBĐ và khả năng trả nợ vay nào hạn chế nhu cầu vay của khách 12 của doanh nghiệp không phải hàng. lúc nào cũng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của ngân hàng. Thủ tục, Thủ tục, quy trình cho vay Chính vì khoản vay nhỏ và khách quy trình KHDN phức tạp hơn nhiều so hàng chủ yếu là cá nhân, hộ gia cho vay với cho vay KHCN vì ngân đình nên về mặt hồ sơ trong cho hàng phải qua thẩm định rất vay KHCN tương đối đơn giản và nhiều thông tin về doanh thủ tục giải quyết thường nhanh nghiệp như: báo cáo tài chính, hơn so với các loại hình sản phẩm báo cáo kết quả hoạt động kinh cho vay khác.
Về mặt thẩm định tín doanh, thẩm định cơ sở sản dụng cũng không quá phức tạp như xuất kinh doanh, nhà xưởng, việc phân tích, đánh giá báo cáo tài máy móc thiết bị,. chính như trong tín dụng KHDN. Nguồn Nguồn trả nợ của doanh nghiệp Nguồn trả nợ của KHCN chủ yếu trả nợ chủ yếu từ dòng tiền tạo ra đến từ các khoản thu nhâp thường trong tương lai như tiền bán xuyên, ổn định của khách hàng hàng,. như: thu nhập từ lương, thu nhập từ tài sản hiện hữu (cho thuê tài sản, lãi tiền gửi tiết kiệm,.) Rủi ro Rủi ro thường lớn hơn rất nhiều Do lượng khách hàng lớn, các trong so với cho vay cá nhân vì số khoản vay có giá trị nhỏ giúp ngân cho vay tiền doanh nghiệp vay thường hàng phân tán được rủi ro cao.
lớn hơn rất nhiều so với số tiền cá nhân vay. Nguồn:Bùi Diệu Anh và các cộng sự (2009), Nghiệp vụ tín dụng ngân hàng.6 Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014) và Bùi Diệu Anh và các cộng sự (2009), liên hệ với lĩnh vực cho vay KHCN, các sản phẩm cho vay KHCN tại các NHTM được phát triển và thiết kế tương tự như sản phẩm tín dụng truyền thống nhưng có những nét đặc thù riêng, nhằm đáp ứng tính chất riêng biệt của đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. Hiện nay, có rất nhiều sản phẩm cho vay dành cho KHCN được các NHTM đưa ra để phục vụ khách hàng, tùy theo năng lực, cung cầu vay vốn, đối thủ cạnh tranh và chiến lược kinh doanh mà các ngân hàng đưa ra các sản phẩm đặc thù hoặc chú trọng đẩy mạnh những dòng sản phẩm mang lại nhiều lợi ích cho họ. Ngoài ra, các sản phẩm cho vay KHCN cũng rất đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên nhìn chung chỉ có 02 nhóm chính: cho vay SXKD và cho vay tiêu dùng (phi sản xuất).1 Cho vay sản xuất kinh doanh Cho vay SXKD: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động, mở rộng quy mô SXKD của đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình có hoạt động SXKD với quy mô nhỏ.
Cho vay SXKD mục đích có thể là để bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất; để thanh toán tiền vật tư, nguyên liệu, hàng hóa và các chi phí cần thiết; hoặc để thanh toán tiền mua sắm máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển; nâng cấp hoặc mở rộng cơ sở SXKD. Số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn của loại hình sản phẩm này thường rất lớn nhưng doanh số vay lại không lớn và mang tính nhỏ lẻ, thường bao gồm những gói sản phẩm cho vay sau: Cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp: chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là cá nhân và hộ nông dân sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản,.Ngoài việc đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất cho nông dân, cho vay nông nghiệp còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần thay đổi tập quán, thói quen làm ăn, chuyển từ sản xuất nông nghiệp với 14 quy mô nhỏ phục vụ cho thị trường địa phương sang sản xuất với quy mô lớn hơn hướng đến thị trường xuất khẩu rộng lớn. Cho vay tiểu thƣơng: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình có các cửa hàng, sạp/quầy bán hàng tại một địa điểm nhất định. Thông qua hình thức cho vay này đã cung cấp được vốn cho bà con tiểu thương nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ hàng hóa, sửa chữa trang trí mặt bằng, chi phí sang nhượng sạp/quầy hàng, bổ sung thiếu hụt vốn kinh doanh.
Đồng thời, qua đó góp phần thay đổi thói quen chơi hụi và vay nặng lãi của khách hàng sang tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Đối với loại hình cho vay này, do tâm lý ngại tiếp xúc với ngân hàng, cũng như khả năng hiểu biết của đối tượng khách hàng này còn hạn chế, nên mặc dù có nhu cầu vay vốn nhưng nhiều khách hàng còn ngại tiếp xúc với ngân hàng, ngại làm các thủ tục vay vốn. Do đó, để thu hút nhóm đối tượng khách hàng này đòi hỏi ngân hàng phải có chính sách tiếp cận phù hợp, theo hướng giảm tối đa thủ tục làm phiền hà khách hàng, thay vào đó có thể là tổ chức nhân viên tín dụng di động, chủ động tiếp xúc tận nơi để hiểu rõ hơn tình hình và hoạt động buôn bán của khách hàng, kết hợp với xem xét cho vay một cách linh hoạt và sát thực tế.2 Cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng: là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn để mua sắm, chi tiêu cho các tiện nghi sinh hoạt của gia đình nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân, qua đó cũng kích thích tiêu dùng xã hội, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Mặc dù các khoản vay là nhỏ lẻ nhưng đây lại là nhóm đối tượng khách hàng có số lượng rất đông nên tổng nhu cầu vay rất lớn.
Ngoài ra, cho vay tiêu dùng gồm rất nhiều sản phẩm đặc thù, đáp ứng nhu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng, thường gồm các gói sản phẩm sau: Cho vay sinh hoạt - tiêu dùng: sản phẩm này được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu trong gia đình như: mua sắm vật dụng gia đình, mua xe, cưới hỏi, du lịch, chữa bệnh,. 15 Cho vay hỗ trợ tiêu dùng: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có thu nhập ổn định hàng tháng; số tiền cho vay nhằm hỗ trợ thêm cho tiêu dùng trong khi chờ đợi thu nhập đến kỳ; loại vay này với số tiền tương đối nhỏ và không cần tài sản thế chấp. Cho vay an cƣ: đây là sản phẩm được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu có liên quan đến BĐS, phục vụ nhu cầu nhà ở như: mua nhà, hợp thức hóa nhà đất, xây dựng sửa chữa nhà của cá nhân, hộ gia đình và được chia thành 2 nhóm nhỏ sau: Cho vay xây dựng–sửa chữa nhà: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp nhằm hỗ trợ nhu cầu xây dựng, sửa chữa, trang trí nội thất nhà ở của khách hàng. Số tiền cho vay tối đa bằng 70% chi phí xây dựng hoặc sửa chữa và thời gian vay tối đa là 5 năm.
Cho vay mua nhà, nền nhà, hoán đổi nhà: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu về nhà đất và cần sự hỗ trợ tài chính. Số tiền cho vay tối đa là 60% giá trị nhà hoặc nền nhà. Cho vay hỗ trợ du học: sản phẩm này được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu hỗ trợ tài chính cho con em mình đi du học. Số tiền cho vay theo nhu cầu và trên cơ sở giá trị tài sản thế chấp do ngân hàng định giá.
Ngoài ra, ngân hàng còn có chính sách hỗ trợ cùng với sản phẩm này các dịch vụ đi kèm như: giới thiệu công ty tư vấn du học, xác nhận năng lực tài chính để dự phỏng vấn xin visa, xin giấy phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài,. Cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân Xu hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong những năm gần đây dẫn đến hình thức thanh toán bằng thẻ và bằng tài khoản tiền gửi thanh toán tại các NHTM cũng tăng cao. Trong đó, thanh toán bằng thẻ tín dụng là hình thức tương đối mới và ngày càng phổ biến tại Việt Nam đang được các NHTM chú trọng phát triển. Cho vay thông qua phát hành thẻ tín dụng được hiểu là phương thức cho vay mà trong đó chủ thẻ (khách hàng đi vay) được phép sử dụng một hạn mức tín dụng 16 trong một thời hạn nhất định (thường là một năm) bằng cách sử dụng thẻ tín dụng do ngân hàng/tổ chức phát hành thẻ cấp, để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu hàng ngày thông thường.
Thẻ tín dụng là thẻ ngân hàng mà ngoài những công dụng như rút tiền mặt, thanh toán hàng hóa, dịch vụ còn là công cụ để giải ngân khoản tín dụng theo hạn mức đã được ký trước đó. Cho vay cầm cố sổ tiền gửi: là sản phẩm tín dụng dành cho đối tượng khách hàng là cá nhân có các khoản tiền gửi tại ngân hàng như: sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi,. có nhu cầu sử dụng tiền nhưng các khoản tiền gửi này chưa đến hạn. Trường hợp này khách hàng phát sinh nhu cầu sử dụng tiền trước khi sổ tiền gửi đến hạn, nếu rút tiền trước hạn, khách hàng bị thiệt hại về lãi tiền gửi.
Do vậy, ngân hàng cung cấp sản phẩm cho vay này để đáp ứng nhu cầu chi tiêu nhưng vẫn bảo toàn được lãi tiền gửi cho khách hàng.7 Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo các nghiên cứu trước đây, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng như: yếu tố về môi trường kinh tế, chính sách kinh tế, văn hóa-xã hội, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, công nghệ, nguồn nhân lực, quy mô kinh doanh của ngân hàng,. Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, liên hệ với hoạt động cho vay KHCN có thể rút ra hai nhóm yếu tố ảnh hưởng sau đây: 1.