Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại; - Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam; - Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM Cho vay là hoạt động phổ biến trong đời sống thương mại. Một số tài liệu có định nghĩa về khái niệm “cho vay” nhưng giữa các tài liệu, nội hàm của khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: “cho vay là sự chuyển vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ nợ hay người cho vay) cho một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là con nợ hay người đi vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả vốn và phải trả thêm một khoản lãi gọi là lợi tức”.
[25] Định nghĩa này chưa hoàn toàn chính xác khi cho rằng hoạt động cho vay luôn có yếu tố lãi suất. Trên thực tế , lãi suất chỉ áp dụng trong đa số chứ không phải trong tất cả các trường hợp cho vay , ví dụ như trong hoạt động cho vay giữa các cá nhân thì có thể không có lãi suất. Theo từ điển Wikipedia, khái niệm “cho vay” được đồng nhất với khái niệm “tín dụng”. Từ điển này định nghĩa: “Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.
Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ”. [29] Đây cũng là định nghĩa chưa chính xác, bởi lẽ nội hàm của khái niệm “cho vay” hẹp hơn so với nội hàm của khái niệm “tín dụng”. Theo khoản 14 – Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, cho vay chỉ là một nghiệp vụ của hoạt động cấp tín dụng nên không thể đồng nhất khái niệm “cho vay” với khái niệm “tín dụng”.
Khoản 16 – Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa: “ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Với việc xác đị nh tài sản cho vay là “một khoản tiền” thì đị nh nghĩ a này chỉ thích hợp với hoạt động cho vay của NHTM. Đối với hoạt động cho vay ngoài ngân hàng thì ngoài việc cho vay tiền , các chủ thể còn có thể cho vay bằng các tài sản khác. Theo tôi, khái niệm “cho vay” có thể được định nghĩa như sau : Cho vay là việc một bên (gọi là bên cho vay hay chủ nợ ) chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản tiền hoặc tài sản khác cho bên kia (gọi là bên đi vay hay con nợ) trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (nếu có).
Hoạt động cho vay của NHTM có những đặc thù nhất định. Để có thể đưa ra khái niệm chí nh xác về hoạt động này , chúng ta cần xem xét các đặc điểm của hoạt động cho vay của NHTM. Theo tôi, hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau: - Về chủ thể : chủ thể của hoạt động cho vay thường bao gồm hai bên là bên cho vay (là các NHTM ) và bên đi vay (là các tổ chức , cá nhân có nhu cầu vay vốn). Trong một số trường hợp, có thể có sự tham gia của bên thứ ba , ví dụ như bên bảo lãnh.
- Về tài sản cho vay : tài sản cho vay là một khoản tiền , số tiền vay nhiều hay í t là do thỏa thuận giữa NHTM với khách hàng căn cứ vào nhu cầu củ a các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bên, khả năng cho vay của NHTM , khả năng trả nợ của khách hàng và quy định của pháp luật. Đây là sự khác biệt giữa hoạt động cho vay của NHTM so với các hoạt động cho vay khác , đối với các hoạt động cho vay khác thì tài sản cho vay không nhất thiết là một khoản tiền mà có thể là một tài sản khác. - Về lãi suất : NHTM là một chủ thể kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, vì thế, khi cho vay , NHTM luôn yêu cầu bên đi vay phải trả l ãi suất cho khoản tiền vay. Mức lãi suất do các bên thỏa thuận căn cứ vào quy đị nh của pháp luật tại thời điểm cho vay.
Đây là một sự khác biệt nữa giữa hoạt động cho vay của NHTM với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng , hoạt động cho vay ngoài ngân hàng có thể có lãi suất hoặc không. - Về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng : để bảo đảm an toàn cho hoạt động của mì nh , khi cho khách hàng vay tiền , các NHTM thường yêu cầu khách hàng phả i thực hiện các biện pháp bảo đảm việc trả lại tiền vay. Trong đó , phổ biến nhất là biện pháp cầm cố , thế chấp và bảo lãnh , ngoài ra , trong một số í t trường hợp thì biện pháp tí n chấp cũng có thể được áp dụng. Trong khi đó , đối với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng thì không nhất thiết phải có các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Với những đặc điểm đã phân tí ch ở trên , có thể đưa ra khái niệm về hoạt động cho vay của NHT M như sau: Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động mà trong đó, bên cho vay là các NHTM chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản tiền cho bên đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.2 Phân loại cho vay của NHTM Hoạt động cho vay của NHTM khá đa dạng. Việc phân loại cho vay của NHTM có thể căn cứ vào các tiêu chí như phương thức, mục đích, thời hạn cho vay… Cụ thể như sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Căn cứ vào phương thức cho vay Theo Quy chế cho vay của tổ chức tí n dụng đối với khách hà ng (Ban hành theo Quyết đị nh số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ), tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay , bao gồm: + Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. + Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. + Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. + Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Thời hạn cho vay được chia làm nhiều mức : + Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; + Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng; + Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.