Tài liệu: Hoàng quốc vinh phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng

Nghiên cứu phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Văn Yên năm 2019.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Dược Sĩ Chuyên Khoa Cấp I

2019

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Luận văn Hoàng Quốc Vinh

Hoàng Quốc Vinh đã hoàn thành luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I tại Trường Đại học Dược Hà Nội vào năm 2019. Luận văn này tập trung vào phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Phòng khám Trung tâm Y tế huyện Văn Yên. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Liên Hương, Trưởng Bộ môn Dược lâm sàng. Đây là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa trong lĩnh vực dược lý và dược lâm sàng, nhằm đánh giá hiệu quả kiểm soát huyết áp và lựa chọn thuốc điều trị thích hợp cho bệnh nhân tăng huyết áp trong cộng đồng.

1.1. Nội dung chính của nghiên cứu

Luận văn của Hoàng Quốc Vinh bao gồm ba chương chính. Chương 1 trình bày tổng quan về bệnh tăng huyết áp, bao gồm dịch tễ bệnh, phân độ tăng huyết áp, chẩn đoán và các yếu tố nguy cơ. Chương 2 mô tả phương pháp nghiên cứu với đối tượng là bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú. Chương 3 trình bày kết quả phân tích tình hình sử dụng thuốc và hiệu quả kiểm soát huyết áp trong vòng 12 tháng điều trị.

1.2. Chuyên ngành và mã số đăng ký

Chuyên ngành nghiên cứu là Dược lý - Dược lâm sàng với mã số CK 60 72 04 05. Thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ ngày 2/7/2018 đến ngày 2/11/2018 tại cơ sở Phòng khám Trung tâm Y tế huyện Văn Yên. Công trình này đóng góp quan trọng vào cơ sở dữ liệu về sử dụng thuốc hạ huyết áp tại cơ sở y tế huyện.

II. Đặc điểm bệnh nhân tăng huyết áp trong mẫu nghiên cứu

Trong luận văn của Hoàng Quốc Vinh, khảo sát đặc điểm bệnh nhân tăng huyết áp là một nội dung quan trọng. Nghiên cứu thu thập thông tin chi tiết về đặc điểm chung của bệnh nhân tại thời điểm T1 (lần khám đầu tiên). Các chỉ số được đánh giá bao gồm tuổi, giới tính, BMI (chỉ số khối cơ thể), bệnh kèm theo và đặc điểm cận lâm sàng. Đặc biệt, luận văn phân tích tỷ lệ kiểm soát huyết áp ở các thời điểm khác nhau và tỷ lệ bệnh nhân tái khám để đánh giá tuân thủ điều trị. Các dữ liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình quản lý tăng huyết áp tại cộng đồng.

2.1. Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng

Phân tích tình hình kiểm soát huyết áp bao gồm đo huyết áp tâm thu (HATTh) và huyết áp tâm trương (HATTr). Ngoài ra, luận văn Hoàng Quốc Vinh còn đánh giá các yếu tố liên quan như cholesterol (CT), HDL-C, LDL-C, triglycerid (TG) và mức lọc cầu thận (MLCT). Những chỉ số này giúp phân tầng nguy cơ tim mạch và xác định bệnh nhân nguy cơ cao.

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân

Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân được chẩn đoán xác định tăng huyết áp và điều trị ngoại trú tại phòng khám. Tiêu chuẩn loại trừ không bao gồm bệnh nhân mang thai, có bệnh thận mạn (BTM) giai đoạn cuối (ESRD) hoặc không tuân thủ điều trị. Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ bệnh nhân tăng huyết áp lập sơ đồ điều trị tại cơ sở.

III. Phân tích việc lựa chọn thuốc điều trị tăng huyết áp

Hoàng Quốc Vinh đã thực hiện phân tích chi tiết về việc lựa chọn thuốc điều trị dựa trên các hướng dẫn lâm sàng hiện hành. Các nhóm thuốc được sử dụng bao gồm: Ức chế men chuyển (ƢCMC), Ức chế beta (ƢCB), Chẹn kênh calci (CKCa), và Ức chế chẹn thụ thể angiotensin (UTTA). Luận văn so sánh lựa chọn thuốc điều trị với các khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam (HTMHVN) và báo cáo JNCVIII. Ngoài ra, phân tích tình hình sử dụng thuốc còn bao gồm đánh giá hiệp lực thuốc, liều lượng và chống chỉ định (CCĐ). Nghiên cứu cũng ghi nhận các thuốc khác sử dụng trên bệnh nhân để quản lý các bệnh kèm theo.

3.1. Các nhóm thuốc hạ huyết áp chính

Trong luận văn phân tích tình hình sử dụng thuốc, năm nhóm chính được xem xét: (1) Ức chế men chuyển, (2) Ức chế beta, (3) Chẹn kênh calci, (4) Ức chế chẹn thụ thể angiotensin, và (5) Các thuốc khác. Hoàng Quốc Vinh đánh giá tần suất sử dụng từng nhóm, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng monotherapy (một thuốc) versus phối hợp thuốc. Cơ sở lựa chọn tuân theo nguyên tắc điều trị của các hướng dẫn quốc tế.

3.2. Cơ sở và quy tắc lựa chọn thuốc

Phân tích tình hình lựa chọn thuốc dựa trên các yếu tố: tuổi bệnh nhân, bệnh kèm theo (đái tháo đường - ĐTĐ, nhồi máu cơ tim - NMCT), và các yếu tố nguy cơ (YTNCTM). Luận văn đánh giá sự phù hợp của lựa chọn thuốc điều trị với khuyến cáo hiện hành và xác định các chống chỉ định (CCĐ) nếu có. Phác đồ điều trị được thay đổi dựa trên hiệu quả kiểm soát huyết áp mục tiêu (HAMT).

IV. Hiệu quả kiểm soát huyết áp và kết luận

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Quốc Vinh cho thấy hiệu quả kiểm soát huyết áp của bệnh nhân trong vòng 12 tháng điều trị. Phân tích tình hình được thực hiện tại các thời điểm khác nhau: T1 (lần khám đầu), T2 (3 tháng), T3 (6 tháng), và T4 (12 tháng). Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu (HAMT) được theo dõi, cũng như số lượng bệnh nhân cần thay đổi phác đồ thuốc. Luận văn cũng ghi nhận các hạn chế của nghiên cứu liên quan đến thời gian thực hiện, cơ sở nghiên cứu duy nhất, và tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Những kiến nghị được đưa ra nhằm cải thiện quản lý tăng huyết áp tại cơ sở y tế địa phương.

4.1. Đánh giá hiệu quả điều trị theo thời gian

Hoàng Quốc Vinh đánh giá kiểm soát huyết áp bằng cách so sánh giá trị HATTh và HATTr tại các thời điểm T1, T2, T3 và T4. Phân tích tình hình cho thấy xu hướng thay đổi của huyết áp qua các giai đoạn. Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu được tính toán, cũng như tỷ lệ kiểm soát không đạt mục tiêu (uncontrolled hypertension). Nghiên cứu cũng ghi nhận sự cải thiện từng bước trong quản lý tăng huyết áp qua các khoảng theo dõi.

4.2. Kiến nghị và ý nghĩa lâm sàng

Luận văn phân tích tình hình sử dụng thuốc của Hoàng Quốc Vinh đưa ra những kiến nghị quan trọng (YNLS) nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp. Các kiến nghị bao gồm: (1) Tăng cường tuân thủ điều trị của bệnh nhân; (2) Cải thiện khả năng lựa chọn thuốc phù hợp; (3) Tăng cường giáo dục sức khỏe về lối sống; (4) Theo dõi định kỳ bệnh nhân tại các thời điểm khác nhau. Công trình có ý nghĩa lâm sàng (YNLS) quan trọng cho việc quản lý tăng huyết áp tại cộng đồng.

21/12/2025
Hoàng quốc vinh phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám trung tâm y tế huyện văn yên luận văn dƣợc sĩ chuyên khoa cấp i hà nội 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một thách thức lớn đối với ngành y tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo ƣớc tính của Hội tim mạch châu âu và Hội tăng huyết áp châu âu (ESC/ESH) tỷ lệ tăng huyết áp toàn cầu là 1,13 tỷ ngƣời trong năm 2015. Còn theo các nhà khoa học Mỹ, tỷ lệ tăng huyết áp (THA) trên thế giới năm 2000 là 26,4% (tƣơng đƣơng 972 triệu ngƣời, riêng các nƣớc đang phát triển chiếm 639 triệu) và sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 với tổng số ngƣời mắc bệnh trên toàn thế giới khoảng 1,56 tỷ ngƣời [10]. Cũng theo Tổ chức Y tế thế giới, THA là một trong những nguyên nhân gây tử vong quan trọng nhất, mỗi năm ƣớc tính THA gây tử vong cho gần 8 triệu ngƣời [3] [7].

Theo điều tra mới nhất của hội tim mạch học Việt Nam năm 2016 khoảng 48% ngƣời Việt Nam mắc bệnh THA. Đáng lo ngại tăng huyết áp là bệnh dễ dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học lớn đã chứng minh đƣợc mối quan hệ chặt chẽ giữa con số huyết áp (HA) với các bệnh lý nhƣ nhồi máu cơ tim, đột quỳ, suy tim, suy thận. Mối liên hệ giữa HA và tim mạch có tính liên tục, hằng định, và độc lập với các yếu tố nguy cơ khác.

Đối với độ tuổi từ 40 đến 70 và trong giới hạn HA từ 115/75 mmHg đến 185/115 mmHg, mỗi sự gia tăng 20 mmHg của huyết áp tâm thu (HATTh) hay 10mmHg của huyết áp tâm trƣơng (HATTr) là tăng gấp đôi nguy cơ tử vong do đột quỳ, bệnh tim mạch. Bệnh nhân THA có nguy cơ suy tim tăng gấp 6 lần [1] [8]. Việc điều trị THA có thể làm giảm đƣợc khoảng 35-40% nguy cơ đột quỳ, 20-25% nguy cơ nhồi máu cơ tim, và giảm nguy cơ suy tim hơn 50%. Ƣớc tính với những bệnh nhân THA có HATTh 140-159 mmHg và/hoặc HATTr 90-99mmHg, đồng thời có thêm yếu tố nguy cơ tim mạch, nếu làm giảm đƣợc 12 mmHg duy trì trong 10 năm sẽ ngăn ngừa đƣợc 1 trƣờng hợp tử vong cho mỗi 11 bệnh nhân đƣợc điều trị, nếu có bệnh mạch vành hay tổn thƣơng cơ quan đích thì chỉ cần hạ áp cho 9 bệnh nhân là ngăn ngừa đƣợc 1 trƣờng hợp tử vong [3].

1 THA nếu không đƣợc điều trị đúng và đầy đủ sẽ gây ra nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hƣởng đến sức khỏe, sức lao động của ngƣời bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Nhƣng trong thực tế, việc điều trị tốt bệnh THA để tránh các tai biến nguy hiểm này là điều không dễ dàng thực hiện. Bên cạnh đó nhờ sự phát triển tiến bộ của khoa học ngành Y Dƣợc, các thuốc điều trị THA ngày càng đa dạng và phong phú nhƣng cũng chính sự đa dạng này phần nào cũng gây khó khăn cho thầy thuốc và ngƣời bệnh trong việc lựa chọn, sử dụng thuốc trong điều trị. Trung tâm Y tế huyện Văn Yên là một Bệnh viện tuyến huyện vừa lên hạng II với đặc thù là tỉnh miền núi đa số là ngƣời dân tộc nên trình độ nhận thức của ngƣời dân chƣa cao, mức sống của ngƣời dân còn thấp và không đồng đều.

Nhiều ngƣời dân chƣa hiểu hết đƣợc những tác hại, nguy hiểm và các tai biến gặp phải khi bị bệnh THA nên việc đi khám định kỳ và sử dụng thuốc thƣờng xuyên gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó để đánh giá một cách khách quan thực trạng sử dụng thuốc và hiệu quả điều trị THA giúp cho bệnh nhân điều trị có hiệu quả, an toàn và phù hợp với hoàn cảnh ngƣời bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám Trung tâm Y tế huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Với ba mục tiêu như sau: 1. Khảo sát đặc điểm của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại phòng khám Trung tâm Y tế huyện Văn Yên.

Phân tích việc lựa chọn thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân. Phân tích hiệu quả kiểm soát huyết áp của bệnh nhân trong vòng mƣời hai tháng điều trị. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 1.

Định nghĩa: Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trƣơng ≥ 90 mmHg [1] [8]. Nguyên nhân: Phần lớn THA ở ngƣời trƣởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trƣờng hợp là có nguyên nhân. Nguyên nhân của THA có thể đƣợc phát hiện thông qua khai thác tiền sử, khám lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng thƣờng quy [1] [3]. Các nguyên nhân thƣờng gặp của THA thứ phát bao gồm: - Bệnh thận cấp hoặc mạn tính: viêm cầu thận cấp/mạn, viêm kẽ thận, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nƣớc, suy thận.

- Hẹp động mạch thận. - U tủy thƣợng thận (Pheocromocytome). - Cƣờng Aldosteron tiên phát. - Hội chứng Cushing.

- Bệnh lý tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên. - Do thuốc, liên quan đến thuốc (kháng viêm phi steroid, thuốc tránh thai, corticoid …). - Hẹp eo động mạch chủ. - Nhiễm độc thai nghén.

- Ngừng thở khi ngủ. - Yếu tố tâm thần 3 1. Dịch tễ bệnh tăng huyết áp: THA là một trong những nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới, nếu nhƣ tỷ lệ THA năm 2005 khoảng 26% có khả năng tăng lên 60% vào năm 2025. Trên thế giới ở các nƣớc phát triển tỷ lệ THA nhƣ Anh (30-45%), Canada (19,6%), Trung Quốc (26,%), Australia (27%) và New Zealand (31%).

Theo điều tra của NHANES trong 5 năm từ 1999 – 2004 tỷ lệ THA tại Mỹ tăng từ 27 – 29% và một cuộc khảo sát tƣơng tự từ năm 2004 – 2007 tỷ lệ THA 47% ở ngƣời lớn ≥ 55 tuổi và sẽ tăng lên 56% ở những ngƣời có độ tuổi từ 75 – 84 tuổi. Các biến chứng THA không kiểm soát đƣợc sẽ dẫn tới các bệnh suy tim, đột quỳ, bệnh động mạch vành, suy thận và bệnh mạch máu ngoại vi [19]. Trong năm 2010, tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và điều chỉnh tình trạng tàn tật trong nhiều năm qua trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, tăng huyết áp chiếm số tử vong nhiều hơn bất kỳ yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh nào khác và chỉ đứng sau hút thuốc là nguyên nhân có thể phòng ngừa tử vong vì bất kỳ lý do gì.

Trong một nghiên cứu tiếp theo của 23.272 ngƣời NHANES của Mỹ (Khảo sát Khám sức khỏe và Dinh dƣỡng Quốc gia), 50% tử vong do bệnh mạch vành và đột quỳ xảy ra ở những ngƣời bị tăng huyết áp. Do tỷ lệ cao của tăng huyết áp và nguy cơ gia tăng liên quan đến bệnh thận, đột quỳ và bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD), nguy cơ liên quan đến dân số của các kết cục này liên quan đến tăng huyết áp cao. Trong nghiên cứu ARIC dựa trên dân số (Rủi ro do xơ vữa động mạch trong cộng đồng), 25% các biến cố tim mạch là do tăng huyết áp. Trong nghiên cứu ở miền Bắc Manhattan, tỷ lệ các biến cố do tăng huyết áp cao hơn ở nữ (32%) so với nam (19%) và cao hơn ở ngƣời da đen (36%) so với ngƣời da trắng (21%).

Trong năm 2012, tăng huyết áp là nguyên nhân thứ hai đƣợc chỉ định hàng đầu của bệnh thận giai đoạn cuối, sau bệnh đái tháo đƣờng, và chiếm 34% các trƣờng hợp bệnh thận giai đoan cuối ở Hoa Kỳ [8]. Thực trạng hiểu biết và kiểm soát THA tại Việt Nam hết sức đáng quan tâm là nhận thức cộng đồng về căn bệnh THA còn rất hạn chế. Năm 2007, Viên Văn Đoan và cộng sự theo dõi và điều trị cho 5.840 bệnh nhân THA trong vòng 5 năm 4 cho thấy: 90,8% bệnh nhân THA đƣợc quản lý tốt, 9,2% bệnh nhân chƣa đƣợc quản lý tốt, trong số bệnh nhân đƣợc quản lý tốt có tới 71,48% bệnh nhân đạt đƣợc huyết áp mục tiêu và 28,52% bệnh nhân chƣa đạt đƣợc huyết áp mục tiêu [5]. Theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 ngƣời trƣởng thành từ 25 tuổi trở lên trong quần thể 44 triệu ngƣời tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc THA cho kết có 52,8% ngƣời có huyết áp bình thƣờng, 47,3% ngƣời bị THA, trong đó có 39,1% không đƣợc phát hiện THA, 7,2% ngƣời bị THA nhƣng không điều trị và có 69% bị THA nhƣng chƣa kiểm soát đƣợc [20].

Phân độ tăng huyết áp: Hiện nay có nhiều tài liệu hƣớng dẫn phân độ THA theo chỉ số huyết áp khác nhau. Ở đây chúng tôi lựa chọn phân độ THA theo khuyến cáo của hiệp hội tim mạch Việt Nam năm 2015, tăng huyết áp đƣợc chia theo rất nhiều cách khác nhau. Các loại tăng huyết áp theo khuyến cáo đƣợc chi tiết hóa trong bảng 1.2 dƣới đây: Bảng 1. Phân loại THA theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam 2015 [4][7] HA Tâm thu HA Tâm trƣơng Tối ƣu < 120 Và < 80 Bình thƣờng 120 – 129 Và/hoặc 80 – 84 Bình thƣờng cao 130 – 139 Và/hoặc 85 – 89 THA độ 1 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99 THA độ 2 160 – 179 Và/hoặc 100 – 109 THA độ 3 ≥ 180 Và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90 5 Phân loại này dựa trên đo huyết áp tại phòng khám.

Nếu HATTh và HATTr không cùng một phân loại thì chọn mức huyết áp cao hơn để xếp loại. Tiền THA: khi HATTh > 120 - 139 mmHg và HATTr > 80 - 89mmHg. Một số thể tăng huyết áp [4] [17] HA phòng khám (mmHg) HATTh <140 và HATTh ≥ 140 HATTr < 90 hoặc HATTr ≥ 90 HATTh < 135 HA bình thƣờng THA áo choàng HA tại nhà hoặc thật sự trắng hoặc HATTr < 85 HA liên tục ban HATTh ≥ 135 ngày (mmHg) THA ẩn dấu THA thật sự hoặc HATTr ≥ 85 1.5 Chẩn đoán tăng huyết áp: * Chẩn đoán THA cần dựa vào: 1. Trị số huyết áp.

Đánh giá nguy cơ tim mạch toàn thể thông qua tìm kiếm các yếu tố nguy cơ, tổn thƣơng cơ quan đích, bệnh lý hoặc dấu chứng lâm sàng kèm theo. Xác định nguyên nhân thứ phát gây THA. * Quá trình chẩn đoán bao gồm các bƣớc chính nhƣ sau: 1. Đo huyết áp nhiều lần.

Khai thác tiền sử. Khám thực thể. Thực hiện các khám nghiệm cận lâm sàng cần thiết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ